Thứ Tư, 26 tháng 2, 2020

Tình cha con sâu nặng, cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)



Nguyễn Quang Sáng quê ở huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là bộ đội hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về miền Nam tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966, được in trong tập truyện cùng tên. Bằng việc tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên hợp lí, đoạn trích trong truyện Chiếc lược ngà thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
Đề tài về tình cảm gia đình luôn là mạch nguồn cảm xúc của văn chương. Ca dao Việt Nam ngập tràn bóng dáng người mẹ, người cha và tạo thành dòng chảy đi vào thơ văn hiện đại với Lời ru của mẹ (Xuân Quỳnh), Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa), Bầm ơi! (Tố Hữu), Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông),… Cũng từ đó, tình cảm gia đình thiêng liêng được bồi đắp trong trái tim mỗi người, là sức mạnh, là niềm tin trong cuộc sống. Đồng thời, tình cảm gia đình là cái nôi sinh ra những tình cảm cao đẹp khác. Và tình cảm thiêng liêng ấy được đặt trong bối cảnh chiến tranh lại càng nổi bật, đậm đà. Chiếc lược ngà là một trong số đó.
Truyện kể về ông Sáu, một nông dân Nam Bộ, yêu nước, xa nhà đi kháng chiến khi Thu - đứa con gái bé bỏng chưa đầy một tuổi. Mãi khi Thu tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt ông làm ông không còn giống với người trong bức ảnh mà em biết. Em cư xử với ba như người xa lạ. Đến lúc nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, Ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quí, thương nhớ con vào việc làm cây lược bằng ngà voi để tặng đứa con gái bé bỏng. Thế nhưng, trong một trận đánh, ông đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn để gửi về cho đứa con ông yêu quý.
Truyện viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người, ở đây chính là tình cha con sâu sắc, được thể hiện trong hai tình huống: tình huống thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách, nhưng trớ trêu thay con lại không nhận ra cha. Đây là tình huống cơ bản của truyện. Tình huống thứ hai là sự việc ông Sáu dồn tất cả tình yêu để làm tặng con gái chiếc lược ngà nhưng ông lại ra đi khi chưa kịp trao tận tay con gái món quà đó. Đó là toàn bộ mạch truyện mà mỗi mạch truyện biểu lộ tình cảm mãnh liệt của mỗi nhân vật. Tình cảm ấy đã vẽ nên một bức tranh buồn nhưng đẹp và thiêng liêng về tình cảm gia đình nói chung, tình cha con nói riêng trong tình cảnh éo le vì chiến tranh.
Nhân vật bé Thu – một em gái tám tuổi là nhân vật thứ nhất của truyện, có một tình yêu cha thật đằm thắm, mãnh liệt. Cha đi chiến đấu biền biệt xa nhà, đến khi Thu lên tám tuổi, hai cha con mới được gặp nhau. Cô bé tóc cắt ngang vai, hồn nhiên xinh đẹp, mới nhìn ông Sáu đã nhận ra ngay con gái của mình, vậy mà nhìn thấy cha bé Thu đã tròn mắt nhìn, ngơ ngác lạ lùng, tái mặt đi, vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má!”. Rồi suốt trong ba ngày cha ở nhà Thu đã không nhận ra cha. Tâm lí và thái độ của Thu được biểu hiện qua hàng loạt các chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động như: nhất định không chịu gọi ông Sáu là cha; nhất định không nhờ ông Sáu chắt giùm nước nồi cơm đang sôi to; hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng kêu rổn rảng thật to… Cách cư xử nói năng cộc lốc, vùng vằng, ương ngạnh, ngờ vực; cái thái độ lạnh nhạt, lảng tránh xa cách, thậm chí còn có những hạnh động vô lễ với ông Sáu ấy khiến cho tình cảm cha con tưởng chừng không hình thành được.
Tuy nhiên sự ương ngạnh của bé Thu lúc mới gặp cha là hoàn toàn không đáng trách. Bởi vì trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le của đời sống. Mặt khác, người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ông Sáu là ba. Chỉ vì trên mặt ông có thêm vết thẹo khác với hình ba mà nó đã khắc sâu vào tâm trí. Phản ứng tâm lí của bé Thu là hoàn toàn tự nhiên. Nó chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm sâu sắc chân thật. Thu chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Trong cái cứng đầu của Thu có ẩn chứa cá sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác.
Song, đến buổi cuối cùng, trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Tình phụ tử thiêng liêng đã cháy bùng lên. Khi nhìn thẳng đối diện với người cha “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Đằng sau đôi mắt mênh mông, xôn xao đó là biết bao ý nghĩ, tình cảm đang xáo động trong lòng. Có được sự xôn xao đó trong đôi mắt là kết quả của cả một đêm “lăn lộn, thở dài như người lớn ở nhà ngoại”. Nó lăn lộn, nó thở dài có lẽ vì nó ân hận, quá giận mình, rất thương ba và mong cho trời chóng sáng để có thể chạy về nhà.
Lần đầu tiên, khi không ai ngờ tới, Thu cất tiếng gọi ba. Đó là tiếng kêu như tiếng xé, xé không khí và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng ba Thu đã kìm nén bao năm nay. Tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng nó. Và đau đớn thay, đây là tiếng gọi ba đầu tiên cũng là tiếng gọi cuối cùng trong cuộc đời cô bé. Sau tiếng gọi ba là một loạt những hành động “nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên, giang hay tay ôm chặt lấy cổ ba nó rồi nó hôn ba nó cùng khắp, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”. Tất cả những hành động đó đều biểu hiện một tình cảm ruột thịt nồng nàn là nỗi mong nhớ bùng lên thật mãnh liệt, hối hả, cuống quýt có xen lẫn sự hối hận. Và khi nghe ông Sáu nói: “Thôi, ba đi nghe con”, nó đã thét lên “Không!” rồi “hai tay xiết chặt cổ ba nó, giang cả hai chân câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé rung rung”, bé Thu khóc. Đó là tiếng khóc của sự xót xa ân hận vì lỗi lầm của mình, vì thương ba đau khổ. Khi hiểu ra mọi lẽ, khi nhận ra cha thì đã quá muộn. Do đó tất cả mọi hành động của Thu đối với cha như muốn đền bù những hụt hẫng đã qua. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy, trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt. Riêng bác Ba – người kể chuyện cảm thấy như có bàn tay cứ nắm lấy trái tim mình. Nhà văn viết không nhiều, chỉ bằng một nét chấm phá đó thôi nhưng đủ cho ta xúc động trước nỗi niềm và tâm trạng của nhân vật.
Tóm lại, tình cảm của bé Thu đối với cha thật sâu sắc, mạnh mẽ, thật dứt khoát rạch ròi. Thu là đứa trẻ có cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng hồn nhiên, ngây thơ, đáng yêu. Giờ đây, Thu không chỉ yêu ba, em còn tự hào về ba. Chính niềm yêu thương và tự hào ấy đã trở thành sức mạnh thôi thúc và rèn giũa để sau này Thu trở thành cô giao liên mưu trí, dũng cảm gan dạ. Qua những diễn biến tâm trạng, tình cảm của bé Thu, ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và quan trọng hơn bởi ông có tấm lòng yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ đó.
Vì cuộc chiến đấu chung của dân tộc, ông Sáu đã hy sinh hạnh phúc gia đình, xa vợ, xa con, rồi những thương tích trong chiến tranh. Suốt tám năm ròng, xa gia đình đi chiến đấu, mấy ngày về thăm nhà ít ỏi, ông phải trái qua nỗi đau về tinh thần vì đứa con gái duy nhất mà ông hằng mong nhớ không chịu nhận ông là cha. Hẳn người đọc chúng ta không thể quên được hành động của ông Sáu khi mới về thăm nhà: “Cái tình người cha cứ nôn nao trong con người anh, không thể chờ xuồng cập bến, anh nhảy thót lên bờ, chạy lại bên con, giọng lập bập run run Ba đây con !”. Thế nhưng đáp lại tình cảm ấy của ông là nỗi sợ hãi thảng thốt kêu cứu của con. Ông như chết lặng đi trông thật đáng thương, tội nghiệp. Suốt ba ngày ở nhà, ông không đi đâu, chỉ tìm cách gần gũi, vỗ về con, nhưng càng an ủi vỗ về thì con càng lạnh nhạt, xa cách. Cho đến phút cuối cùng, trước lúc chia tay, ông mới được hưởng niềm hạnh phúc của người cha, đó là nghe con gọi mình là ba và được đón nhận những cử chỉ, hành động yêu thương nồng nhiệt của con gái. Quá bất ngờ, xúc động, hạnh phúc, ông lén con lau vội những giọt nước mắt vừa sung sướng vừa đau đớn, xót xa.
Vì nhiệm vụ đối với đất nước, ông không thể ở lại với con. Trở về khu căn cứ, ông mang nỗi ân hận đã đánh con và lời con dặn trước lúc chia tay vào việc làm một chiếc lược ngà tặng con. Chỉ kiếm được khúc ngà voi, ông đã vô cùng sung sướng, giành hết tâm trí, công sức vào làm chiếc lược: “Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ, kì công như một người thợ bạc. Trên sống lưng lược có khắc dòng chữ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Chiếc lược ấy chưa chải được mái tóc con nhưng như gỡ được phần nào tâm trạng của ông. Nó trở thành vật thiêng, an ủi ông, nuôi dưỡng trong ông tình cha con và sức mạnh chiến đấu. Hàng đêm, ông nhìn ngắm chiếc lược, mài nó lên tóc cho thêm bóng thêm mượt. Tác giả không miêu tả rõ nhưng người đọc vẫn hình dung được cái kỉ vật nhỏ bé mà thiêng liêng ấy. Đó cũng là biểu tượng trắng trong, quý giá, bất diệt của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Do đó, trước lúc hi sinh, không đủ sức nói một lời trăng trối, ông vẫn nhớ tới chiếc lược và chuyển giao nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một ước nguyện gìn giữ muôn đời tình cha con ruột thịt. Điều đó đúng như ông Ba đã nói: “Có lẽ chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Chiếc lược ngà – kỉ vật của người cha – kỉ vật của người đã khuất mãi mười năm sau mới tìm được địa chỉ, mới được trao lại cho đứa con gái bé bỏng để “tình cha con không chết”. Và hơn thế nữa, nó đang sống lại trong sự sống của người bạn, người đồng chí với bé Thu. Như vậy, câu chuyện Chiếc lược ngà không chỉ ca ngợi tình cha con đậm đà sâu nặng bất diệt, ca ngợi tình đồng chí đồng đội mà còn gợi cho người đọc thấm thía những nỗi đau thương mất mát, éo le mà chiến tranh gieo xuống cho bao con người, bao gia đình trên đất nước Việt Nam.
Chiến tranh! Hai tiếng vang lên nghe thật thương tâm, cũng chính vì hai tiếng đó mà bao người phải khổ đau. Chiến tranh tàn khốc, gây ra các cuộc sinh ly tử biệt, vợ xa chồng, cha xa con, con xa nhà. Chiến tranh không thể tha thứ khi đã cướp đi sinh mạng, xương máu của biết bao người con Việt Nam, và cũng chính trong chiến tranh ấy, những tình cảm thiêng liêng nhất của cuộc đời không thể nào bộc lộ ra hết được, tình yêu đôi lứa, tình đồng chí đồng đội, tình yêu quê hương và đặc biệt nhất là tình cảm gia đình. 
Chúng ta đã từng cảm động biết bao trước tình bà cháu ấm áp, thấm thía trong Bếp lửa của Bằng Việt (1963). Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về người bà tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh, cùng những kỉ niệm tuổi thơ êm đềm bên bà – dù bị bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 bao trùm nhưng bà và bếp lửa vẫn “chờn vờn” mỗi sớm, vẫn “ấp iu nồng đượm” mỗi ngày. Hay Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm) dạt dào tình yêu con của người mẹ Tà Ôi… Còn Y Phương, qua bài thơ Nói với con đã đem đến cho ta vẻ đẹp tình cha con thắm thiết trong lời dặn chân thành, mộc mạc mang đậm chất Tày. Bài thơ như là một khúc tâm tình của người cha, thể hiện lòng yêu thương con của người miền núi và mong ước thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương.
Trong Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng đã phát hiện ra vẻ đẹp tình cha con thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Tiếng gọi ba đầu tiên cũng là tiếng gọi ba cuối cùng, cái ôm đầu tiên của hai cha con cũng là cái ôm cuối cùng. Thế nhưng dù thời gian có ít ỏi, dù bên nhau không nhiều nhưng sợi dây tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu vẫn mãi vững bền, không bom đạn nào có thể chia cắt.
Trang sách khép lại mà sao hình ảnh hai cha con ông Sáu và những tình cảm của họ vẫn còn để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Điều gì đã làm nên sức sống, sức hấp dẫn của các nhân vật cũng như của truyện ? Trước hết, đó là vì tác giả đã xây dựng được một cốt truyện chặt chẽ, hợp lí, đã tạo được những tình huống éo le, cảm động. Thứ hai là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật tài tình, giọng kể nhẹ nhàng, đằm thắm, cách kể quá khứ xen hiện tại. Ngoài ra, cách chọn ngôi kể cũng là một nghệ thuật đặc sắc của truyện. Kể theo ngôi thứ nhất, bác Ba vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện nên càng có tác dụng làm cho câu chuyện như thật và dễ đi vào lòng người.
Đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Nguyễn Quang Sáng đã khắc tạc thành công tình nghĩa cao đẹp giữa những con người Việt Nam luôn trường tồn mãi mãi dẫu có trải qua khốc liệt của chiến tranh.
Thạc sỹ Nguyễn Huyền Nga (Giáo viên trường Quốc tế Á Châu)

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà.


Tình cảm cha con luôn là một trong những tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhất. Nhắc đến gia đình, thường người ta sẽ nghĩ đến sự vất vả cực nhọc của người mẹ nhưng đến với truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp, sự hi sinh của người cha. Người cha lúc nào cũng hi sinh vì gia đình, yêu thương con nhưng đặc biệt trong thời chiến thì tình cảm ấy càng quý giá hơn bao giờ hết. Và tất cả vẻ đẹp của tình cảm ấy đã được thể hiện qua nhân vật ông Sáu.
Tác phẩm “chiếc lược ngà” được Nguyễn Quang Sáng viết vào năm 1966. Khi ấy, tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, đó là những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Nói về hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn này, Nguyễn Quang Sáng đã tâm sự: “Năm 1966, tôi ở miền Bắc trở về miền Nam. Vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng. Tôi đi ghe vào sâu rừng và sống trong một nhà sàn treo trên ngọn cây. Lúc ấy, đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ. Tôi đã rất có ấn tượng với câu chuyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng. Sau khi nghe cô gái kể chuyện, tôi ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này”.
Trong thời kỳ máu lửa căng thẳng của lịch sử, bất kỳ người thanh niên nào cũng không thể ngồi yên nhìn đất nước bị quân giặc giày xéo. Ông Sáu cũng vậy. Tuy lấy vợ chưa được bao lâu nhưng ông đã phải giã từ gia đình lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc. Ông Sáu chiến đấu không chỉ vì đất nước mà còn vì để bảo vệ cuộc sống của những người thân mà ông yêu quý. Những ngày ở chiến khu cứ thế trôi qua trong nỗi nhớ nhà dai dẳng, đau đáu khôn nguôi. Và rồi vợ ông đã sinh con, một bé gái kháu khỉnh. Đó vừa là tin vui nhưng cũng vừa là tin buồn, vui bởi ông cuối cùng cũng trở thành cha. Còn buồn là bởi lẽ ông không thể ở bên vợ chứng kiến khoảnh khắc con chào đời hay cùng có mặt trong quá trình trưởng thành của con. Nên ông luôn hướng về gia đình.
Đối với ông, ba ngày nghỉ phép xuất hiện như một phép màu, một cơ hội quý giá để ông được về với gia đình, đặc biệt là về với đứa con mà ông chưa từng được ôm hôn nó lần nào. Giờ đây ông có thể nhìn thấy đứa con mà ông chỉ mới nhìn mặt nó qua mấy tấm ảnh trắng đen. Nghĩ đến giây phút đó thôi bao cảm xúc đã trào dâng.
Ông Sáu càng háo hức hồi hộp bao nhiêu thì khi trở về nhà, gặp bé Thu ông càng đau đớn bấy nhiêu. Khi xuồng chưa cập bến, ông đã vội nhảy xuống bờ, dang hai tay chạy về phía con cất tiếng gọi. Lúc ấy mọi cảm xúc vỡ òa nghẹn ngào sung sướng. Biết bao tình yêu ông đổ dồn trong hai tiếng gọi “Thu! Con” thân thương ấy. Nhưng đáp lại tấm lòng của ông chỉ là sự lạnh lùng xa lạ của Thu.  Con bé không nhận ra ông, không nhận ra ông là ba của nó. Nó sợ hãi và vùng chạy đi. Điều đó như một nhát dao cứa vào trái tim ông. Làm sao mà không đau khi đứa con gái ruột của mình lại không nhận ra mình. Làm sao mà không đau khi đứa con mình ngóng trông bấy nay lại hờ hững lạnh nhạt. Bao viễn cảnh tươi đẹp ông vẽ ra đều tan biến đọng lại đó là một cảm giác đau nhói. Tuy có thể hiểu được phần nào tâm trạng của bé Thu nhưng ông không thể không thấy cay đắng. Một nụ cười chua chát hiện ra trên gương mặt ông.
Ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi, ông Sáu không làm gì cả ông chỉ quẩn quanh ở nhà bên cạnh bé Thu. Bởi ông hy vọng, con bé rồi sẽ hiểu ra chấp nhận ông và gọi ông một tiếng ba. Một điều dường như là hiển nhiên đối với những gia đình bình thường khác thì đối với ông Sáu lại là một điều vô cùng khó khăn. Ông Sáu dành hết thời gian, tâm tư vào việc đối xử với con để phần nào bù đắp khoảng thời thời gian khi mình không ở cạnh con. Nhưng bé Thu lại cương quyết không chấp nhận sự quan tâm của ông, không hề lay chuyển tình cảm và càng không đồng ý gọi ông Sáu là ba. Dù mẹ nó hay những người xung quanh có nói gì thì con bé cũng nhất quyết không gọi ba. Không biết gọi ông Sáu là gì nên thành ra nó cứ nói trổng như khi kêu ông vào ăn cơm hay khi nhờ ông chắt nước nồi cơm. Trước thái độ của con bé ông chỉ cười trừ. Ông Sáu hiện ra không chỉ thương yêu mà còn bao dung. Bởi lẽ ông hiểu con bé còn nhỏ, và chính ông cũng có lỗi khi không kề bên con trong ngần ấy năm cuộc đời của con nên ông hiểu vì sao con bé lại hành động lại đối xử với ông như người xa lạ. Đỉnh cao của mối quan hệ này là trong bữa cơm, khi ông Sáu gắp cho bé Thu cái trứng cá vào bát nó, Thu đã hất mạnh cái trứng đi khiến cơm văng tung tóe khắp nơi. Không nén được cơn giận, ông đã vung tay đánh bé Thu. Ông đánh bé Thu không phải là vì ông không thương con nữa mà ẩn sâu cái đánh ấy một sự bất lực của trái tim. Dường như ông càng cố gắng gần con hơn thì ông lại càng xa con hơn. Và thời gian cũng không còn cho phép ông có thể ở lại chờ nhận đực tiếng gọi ba. Lúc trước đã không, bây giờ thì cơ hội lại càng mong manh hơn. Ông đánh con nhưng ông lại chính là người đau đớn hơn cả.
Cuối cùng thì ông Sáu cũng đã được toại nguyện. Tiếng gọi ba mà ông hằng tha thiết khao khát được vang lên trong giây phút cuối cùng của cuộc hội ngộ. Ông Sáu lại phải chia tay gia đình trở về kháng chiến. Có lẽ nếu tiếng gọi ấy không vang lên sẽ trở thành nuối tiếc lớn nhất cuộc đời của ông sáu và cả bé Thu nữa. Bởi lẽ “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, mấy người đi biết có trở về, biết đâu đây là lần gặp cuối. Ông Sáu sẽ mãi hối tiếc vì không được nghe tiếng gọi thân thương thiêng liêng. Còn bé Thu nếu không cô sẽ mãi tiếc nuối vì chẳng kịp nhận cha. Nhưng cuối cùng may mắn đã mỉm cười với hai con người này. Cuối cùng mọi chuyện đã vỡ lẽ ra. Thu không nhận ông Sáu vì người cha mà con bé xem hình không có vết sẹo dài trên mặt. Nó không hận không oán trách cha nó khi ông không ở bên cạnh nó trong những ngày tháng thơ bé, nó luôn yêu thương trân quý bức hình của cha nó. Chính vì yêu thương nên nó không thể chấp nhận một người có ngoại hình khác với bức ảnh làm cha.Nhưng khi hiểu ra vết sẹo ấy là do chiến tranh gây ra, đó chính là người cha mà nó hằng mong đợi bấy lâu thì mọi cảm xúc vỡ òa. Bức tường thành kiên cố trong lòng nó cũng sụp đỏ, chỉ còn tình yêu thương. Nó cất tiếng gọi ba. Còn ông Sáu cũng hạnh phúc đến rơi nước mắt. Đó không phải là giọt nước mắt tủi hờn mà là giọt nước mắt hạnh phúc. Hạnh phúc vì cuối cùng ông cũng được nghe con gọi cha, hạnh phúc vì cuối cùng ông cũng cảm nhận được tình yêu thương.
Tình yêu thương là một sợi dây mong manh vô hình có thể mong manh dễ bị tác động nhưng nó vô cùng bền chặt. Điển hình chính là tình yêu thương của bé Thu và ông Sáu. Càng kiên định bao nhiêu trong việc không nhận ông Sáu làm cha thì lại càng yêu thương bấy nhiêu khi nhận ra cha. Con bé không nỡ rời xa người cha mà nó vừa nhận ra. Ông Sáu cũng vậy, ông cũng muốn ở lại bên cạnh con tận hưởng thêm chút tình yêu thương gia đình mà ông vừa nhận được. Ba ngày nghỉ phép tuy ngắn ngủi nhưng với tình hình kháng chiến của đất nước hiện tại thì đó là một khoảng thời gian đặc biệt quý giá. Tuy rất yêu thương con nhưng ông cũng phải gác lại tình yêu thương ấy để lên đường hoàn thành nhiệm vụ sứ mệnh với đất nước. Tình cảm gia đình đáng trân quý thì tình cảm nghĩa vụ với đất nước càng quý gia hơn. Ông đã biết gác tình riêng để hoàn thành sứ mệnh, để bảo vệ đất nước cũng như để bảo vệ cuộc sống bình yên của biết bao gia đình. Khoảnh khắc bé Thu gọi cha tuy ngắn ngủi nhưng đã là một động lực to lớn để ông có thể tiếp tục chiến đấu hết mình đất nước.
Rời xa con, rời xa gia đình đi chiến đấu nhưng ông luôn hướng về quê nhà về gia đình. Gia đình trở thành nguồn sức mạnh to lớn động viên ông ngày ngày chiến đấu chống ngoại xâm. Những ngày tháng ở chiến khu cũng là lúc tình yêu thương của ông Sáu dành cho con bộc lộ rõ nét nhất. Ông Sáu luôn ân hận day dứt về chuyện lỡ tay đánh con. Trước khi đi, bé Thu có nói muốn ông tặng cho một chiếc lược ngà. Lời nói vô tư của trẻ con ấy lại khiến ông khắc cốt ghi tâm. Ao ước của con dần dần cũng trở thành ước nguyện của ông. Ông tẩn mẩn ngồi làm cho con chiếc lược. Thận trọng, cất công như người thợ bạc. Hình ảnh ông ngồi khắc chữ lên chiếc lược có lẽ là hình ảnh đẹp nhất của câu chuyện. Chiếc lược ấy được khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”, tuy dòng chữ cô đọng nhưng đã thể hiện sâu sắc tình cảm của ông dành cho bé Thu. Chiếc lược xét về vật chất không đáng giá nhưng xét về tình cảm tinh thần thì nó vô cùng quý giá không gì có thể thay thế được bởi nó được làm từ tình yêu thương vô bờ bến của người cha dành cho con.
Nhưng chiến tranh ác nghiệt đã cướp mất mạng sống của ông Sáu, cướp đi cơ hội được gặp lại con lần nữa. Di nguyện trước khi chết của ông Sáu chính là có thể trao chiếc lược ấy đến tay Thu. Đến phút cuối của cuộc đời ông vẫn luôn nhớ vẫn luôn yêu thương bé Thu.
Tác phẩm đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng cao quý của ông Sáu và bé Thu. Việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn trần thuật phù hợp đã tạo nên hiệu ứng cho câu chuyện. Câu chuyện qua lời kể của Bác Ba trở nên xúc động hơn, chân thật hơn. Ngôn ngữ có sự chắt lọc giản dị nhưng thấm đẫm hơi thở cuộc sống. Đặc biệt là chi tiết chiếc lược ngà có thể nói là chi tiết đắt nhất của câu chuyện đã chuyển tải thành công vẻ đẹp của tình cha con thiêng liêng cao cả.
Dù ông Sáu có hi sinh nhưng tình yêu ông dành cho bé Thu vẫn vẹn nguyên tuyệt đẹp. Tình cảm ấy cũng chính là động lực cho bé Thu cố gắng hơn và tiếp nối sự nghiệp cách mạng của ông. Tác phẩm không chỉ đề cao tình cảm cha con mà còn lên tiếng phê phán tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm cho biết bao gia đình tan vỡ, chia lìa.


Nguồn: Sưu tầm

Phân tích nhân vật bé Thu



 “Cha là bóng cả ngã che con
Là suối tình thương không bao giờ vơi cạn.” (Ca dao)
Quả thật, nếu tình mẫu tử ngọt ngào, bao la như biển khơi, ôm ấp và vỗ về thì tình phụ tử càng thiêng liêng và cao cả gấp bội. Đề tài về tình cảm gia đình, cụ thể là về tình phụ tử luôn chiếm một vị trí quan trọng và ý nghĩa đối với bản thân người sáng tác lẫn độc giả. Trong văn học Việt Nam hiện đại, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thành công tình phụ tử cao cả, đặt nó trong thời khắc bùng nổ của chiến tranh và từ đó biết bao cảm xúc được cất lên thành lời, làm lay động biết bao bạn đọc. Tác phẩm ấy đi theo cùng tháng năm có tên: Chiếc Lược Ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Nhân vật bé Thu trong truyện ngắn này sẽ giúp người đọc cảm nhận rõ nét về tình phụ nữ thiêng liêng cao cả biết bao…
Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. Đặc biệt, một truyện ngắn xúc động và giản dị về tình cảm gia đình được in vào sách giáo khoa và đã trải qua bao lần kiến giải, tiếp nhận từ các bạn đọc trẻ tuổi đó chính là truyện ngắn “Chiếc lược ngà”. Có thể nói, “Chiếc lược ngà” là một lát cắt nho nhỏ của đời sống, nó viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích trong sách giáo khoa đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử. Nhân vật bé Thu thì nhân vật này đã để lại trong lòng mỗi chúng ta những dấu ấn sâu sắc. Hình ảnh bé Thu và ông Sáu đã khắc họa rõ nét về tình phụ tử thiêng liêng và sâu nặng, bất biến và vĩnh hằng.
Ông Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến trong thời gian tám năm, bé Thu – con của ông luôn từng ngày nhớ về ba của mình. Trong một dịp về thăm nhà, thăm con, Bé Thu không nhận ra ba của mình, trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với ba. Đứa bé ấy tìm đủ mọi cách để không gọi ông Sáu là ba. Điều đó làm ông Sáu đau lòng, nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, ông Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy thì bỗng nhiên bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau. Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt ông Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy ông không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu ông đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con.
Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng giá trị nhân văn của truyện không trở nên nhàm chán mà trở nên sâu sắc hơn cả. Đọng lại trong lòng người đọc ấn tượng nhất chính là nhân vật bé Thu, một cô bé hồn nhiên, bướng bỉnh nhưng lại vô cùng yêu thương cha.
Điều mà người đọc cảm nhận được ở nhân vật này chính là một người con yêu thương cha sâu sắc và mãnh liệt được thể hiện trong giây phút em gặp cha. Tình yêu thương vô bờ bến ấy được cô bé cất giữ trong trái tim bé nhỏ của mình. Khoảng thời gian khi ông Sáu đi kháng chiến thì bé Thu lúc ấy chỉ mới tròn một tuổi. Nỗi nhớ cha chỉ được lưu giữ lại qua tấm ảnh trắng đen nhỏ bé mà em có được.
Chính vì thế, đang lúc chơi đùa gần nhà, nhìn thấy một người đàn ông tự nhiên chạy đến gần nó, bé Thu trong giây phút gặp “người lạ” thì em hoảng sợ, “bỏ chạy và kêu thét lên”. Hành động đó cho thấy tài năng miêu tả diễn biến tâm lí con người của nhà văn Nguyễn Quang Sáng thật tinh tế. Hành động của bé Thu ta không trách được bởi lẽ đó là phản xạ tự nhiên của một đứa bé khi gặp một người xa lạ, bé Thu không hề biết người đàn ông đang đứng gần bên nó chính là người cha trong tấm ảnh, người cha mà nó mong nhớ bao ngày. Lúc này đây, người cha hiện thời khác hẳn với người cha mà nó hình dung qua ảnh bởi vết sẹo dài trên khuôn mặt. Vết sẹo ấy vô tình làm khuôn mặt ông Sáu trông rất đáng sợ và dữ tợn. Hẳn là người đọc cũng sẽ đồng cảm với bé Thu bởi em chỉ là một đứa trẻ chỉ bảy, tám tuổi. Đối với một đứa bé như thế, em chưa hiểu sự khốc liệt của đời sống chiến tranh thời ấy. Bé Thu nghĩ về cha nó đẹp, phải lành lặn, khỏe mạnh như trong bức ảnh. Ngay phút đầu tiên, bé Thu đã không công nhận ông Sáu là cha. Bởi trong tâm hồn của em chỉ là nỗi ám ảnh về quá khứ, cảm giác sợ hãi dường như vây quanh em mà ngay cả chính em cũng không hề mong muốn.
Hơn nữa, khi tìm hiểu nhân vật bé Thu, ta thấy tình yêu thương cha da diết và mãnh liệt được bộc lộ khi bé Thu kiên quyết bảo vệ tình thương mà nó dành cho cha “trong bức ảnh” dù chỉ ba ngày ngắn ngủi ở gần ông Sáu. Phản ứng đầu tiên của con bé là một thái độ kiên quyết không gọi ông Sáu là “ba”, con bé chỉ muốn dành tiếng “ba” cho người cha trong bức ảnh kia. Ông Sáu càng chờ đợi, càng hi vọng thì càng thất vọng. Người đọc không thể rời mắt khỏi trang giấy bởi các tình tiết truyện đan xen với nhau, hồi hộp theo dõi sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của bé Thu khi nó trông nồi cơm giúp mẹ. Người đọc tưởng rằng, khó khăn hay một việc nào quá sức, bé Thu sẽ kêu một tiếng “ba” để nhờ ông Sáu “chắt nước” khi nấu cơm nhưng đằng này, trái lại con bé chọn cách nói trổng. Lời nói cộc lốc, lạnh lùng làm sao: “Cơm sôi rồi, chắt nước dùm cái”. Lời nói này khiến ta nghĩ đây là một cô bé thiếu lễ phép khi nói chuyện với người lớn, nhưng cách cư xử ấy có lí do khiến chúng ta thông cảm. Đó là bé Thu bướng bỉnh, muốn dành  riêng tiếng “ba” thiêng liêng cho một người cha duy nhất mà thôi. Nếu với người khác, trong tình huống khác, tiếng “ba” thật bình thường nhưng đối với một cô bé thiếu thốn tình cảm quan tâm, chăm sóc của người cha thì tiếng “ba” đó thật thiêng liêng và cao quý hơn cả. Tiếng gọi đó, tình cảm đó, nó đã ấp ủ suốt tám năm trời mà chưa có dịp gọi “ba”. Kế đến, hành động của bé Thu lấy vá múc từng vá nước đổ ra ngoài, khi mà ông Sáu phớt lờ đi lời nói trổng đã cho thấy tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh của cô bé này. Bé Thu cũng nhanh tay, thông minh khi sử dụng cách khác, đúng như lời nhận xét của nhân vật Ba: “Con bé đáo để thật”. Sự bướng bỉnh và ương ngạnh của bé Thu ngày càng tiếp tục khi nó hất văng cái trứng cá ra khỏi chén cơm. Hành động đó như muốn từ chối, phủ nhận hết sự quan tâm, chăm sóc của ông Sáu trong những ngày qua. Quả là:
“Tấm lòng cha một đời con đâu hiểu
Bởi tình cha luôn lắng dịu ngọt ngào.” (Ca dao)
Điều đó càng khiến cho người đọc vừa giận, vừa thương bé Thu. Giận vì bé Thu cứng đầu, cố chấp và bướng bỉnh đến mức ương ngạnh và có hành vi thiếu lễ phép với ông Sáu. Thương vì bé Thu thiếu thốn tình cảm của cha từ nhỏ nhưng vẫn giữ trọn một tình thương sâu sắc nhất dành cho người cha duy nhất trong tấm ảnh. Em đã kiên quyết đến mức cố chấp để bảo vệ tình yêu trong sáng mà bấy lâu nay Thu vẫn tin tưởng và trân trọng. Có lẽ, đó cũng là một nét đẹp đáng quý trong tâm hồn của em. Độc giả có thể nhìn thấy rõ tài năng tự sự kết hợp với miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn. Ông dường như nắm rõ và thấu hiểu từng giây phút chuyển biến trong tâm lí trẻ thơ thể hiện qua những hành động và thái độ của bé Thu. Mặc dù cho người cha sau ngần ấy tám năm trời đau khổ khi con không nhận ra mình thì bé Thu vẫn tỏ ra một mực kiên quyết, phân chia ranh giới giữa nó và ông Sáu. Người đọc cảm thấy thật tội nghiệp cho cả hai cha con.
Cuối cùng, tình yêu cha mãnh liệt và sâu sắc được thể hiện và bộc lộ khi bé Thu chia tay với cha. Nghe lời giải thích của ngoại về “vết thẹo” trên khuôn mặt của cha do bị ảnh hưởng từ chiến tranh đã khiến bé Thu không ngủ được. Cả đêm, bé Thu nằm trằn trọc, thao thức, trở mình qua lại. Rõ ràng, bé Thu không phải thuộc kiểu một người thiếu suy nghĩ, vô tư, hồn nhiên mà trái lại chín chắn như người lớn.
Có vẻ như, cô bé đang hối hận về việc đối xử tệ với cha mình trong những ngày qua. Giờ đây, ngoài việc hối hận, có lẽ bé Thu còn cảm thấy tiếc nuối khi nó không gặp cha, không còn được cha quan tâm, chăm sóc. Thời gian quá ngắn ngủi, bao yêu thương và sự quan tâm của ông Sáu dành cho Thu từng ngày ấy em không nhận lấy để rồi khi đến thời khắc gần chia tay, cô bé ấy mới thấy quý giá và tiếc nuối vô cùng. Chắc hẳn, sau lời vỗ về và giải thích từ phía ngoại, bé Thu hiểu ra và mong trời mau sáng, để em chạy về nhà mình thật nhanh, để có thể ôm lấy cha lần cuối, để rồi em được gọi tiếng “ba” sau ngần ấy năm qua.
Mạch truyện vẫn cứ chảy trôi, không hề bị gián đoạn mà cứ lần lượt đẩy tâm thế người đọc từ phía hồi hộp này đến hồi hộp khác. Đỉnh điểm của cảm xúc con người vỡ tung khi nhà văn mô tả giây phút bịn rịn, chia tay của ông Sáu với hàng xóm, cảnh chia tay của ông với đứa con gái yêu duy nhất của mình.
Lúc ông Sáu lên đường trở lại chiến khu, “đôi mắt bé Thu không còn ngơ ngác lạ lùng…ánh mắt xa xăm, mông lung” như đang chờ đợi, đang muốn bộc lộ tình cảm dữ dội, mãnh liệt. Bé Thu trong giây phút: “Nó bỗng cất tiếng gọi ba… tiếng kêu như xé…xé ruột gan mọi người”. Dường như ngay lúc đó, nó muốn cho ba hiểu là nó yêu thương ba biết nhường nào. Bé Thu muốn cho ông Sáu hiểu nó rất thương cha và đó cũng chính là lời xin lỗi muộn màng, sự cảm thông chia sẻ nỗi đau, nỗi tổn thương mà cha nó phải gánh chịu suốt tám năm và cả ba ngày ngắn ngủi vừa qua. Giờ đây, bé Thu yêu luôn cả những gì đáng sợ trên khuôn mặt cha của nó. Rời khỏi vòng tay cha với lời nhắn nhủ trong nước mắt về một cây lược làm quà tặng mà nó mong nhận được, nhưng thực chất, con bé chỉ hi vọng một ngày không xa, đất nước được thống nhất, ba nó trở về và gia đình lại được sum họp. Cứ tưởng cái viễn cảnh gia đình hạnh phúc sẽ không còn xa nữa nhưng cả bé Thu lẫn ông Sáu đều không biết rằng đó là lần gặp mặt cuối cùng của cha và con bởi trong chiến tranh không thể nói trước được điều gì.
Cô bé quả thật đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc không chỉ ở tình yêu thương cha sâu sắc mà còn là sự thông minh, lém lỉnh có phần hơi bướng bỉnh. Chính vì điều đó đã tạo nên một cô giao liên gan dạ, dũng cảm, tiếp nối con đường cách mạng mà ba em đã đi.
Từ việc phân tích nhân vật bé Thu nói riêng hay tìm hiểu về tác phẩm nói chung, ta càng cảm phục và trân trọng trước tình cảm của cha con ông Sáu, càng thấm thía hơn tình phụ tử thiêng liêng, bất diệt trong chiến tranh. Truyện có giá trị mạnh mẽ trong việc tố cáo tội ác của chiến tranh. Nó đã gieo rắc bao đau thương khiến gia đình li tán, con xa cha, chồng xa vợ. Chiến tranh và tội ác chính là kẻ thù của nhân loại. Tình huống truyện được nhà văn xây dựng độc đáo và ngôi kể chứng nhân qua nhân vật Ba càng góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho truyện.
Nói tóm lại, nhân vật bé Thu trong tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một nhân vật thú vị, gần gũi và có những nét tính cách riêng: vừa ngây thơ, vừa giàu tình cảm nhưng cũng kiên quyết mạnh mẽ. Bên cạnh hình ảnh ông Sáu thì hình ảnh bé Thu được tác giả miêu tả sâu sắc và chân thật. Hai nhân vật này song hành cùng nhau làm cho câu chuyện về tình phụ tử thêm đẹp và ý nghĩa. Truyện ngắn đã khiến người đọc cảm thấy yêu hơn và trân quý hơn những giây phút bên gia đình, bởi lẽ thời gian lướt trôi vội vã nhưng đời người thì hữu hạn biết bao…

Nguồn: Sưu tầm




Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

CẢM NHẬN BÀI THƠ SANG THU – HỮU THỈNH



Cũng như mùa xuân, mùa thu đã trở thành đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Có rất nhiều nhà thơ viết về mùa thu Việt Nam và mỗi người đều có một cảm nhận riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Với Nguyễn Khuyến mùa thu là bầu trời thu xanh ngắt, ngõ trúc quanh co… Với Xuân Diệu mùa thu là dáng liễu buồn, là màu áo mơ phai… Với Lưu Trọng Lư mùa thu là “Con nai vàng ngơ ngác/đạp trên lá vàng khô”. Và Hữu Thỉnh, một nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ đã góp vào tuyển tập những bài thơ thu Việt Nam một ấn tượng mới mẻ về mùa thu qua bài thơ “Sang thu”. Bài thơ đã đem lại cho người đọc cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng trước sự biến chuyển nhẹ nhàng của đất trời lúc giao mùa hạ - thu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ qua sự cảm nhận tinh tế của tác giả.
Bài thơ chỉ có 12 câu thơ năm chữ nhưng đã miêu tả một cách tinh tế sự biến chuyển nhẹ nhàng, giao cảm của đất trời lúc giao mùa hạ thu. Nếu như trong thơ của Xuân Diệu, tín hiệu bắt đầu là màu sắc “mơ phai” của lá vàng:
“Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.”
Thì tín hiệu bắt đầu mùa thu trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh lại là hương ổi chín trong làn gió se se lạnh:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
Sự biến đổi của đất trời lúc sang thu được nhà thơ phát hiện ra nhờ tín hiệu của sự chuyển mùa là làn gió se nhè nhẹ mang theo hương ổi chín lan vào không gian, một mùi hương đặc biệt của mùa thu ở nông thôn Việt Nam. Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm giác bất ngờ ngay dòng thơ đầu tiên. “Bỗng” là bất chợt có pha chút ngỡ ngàng. Một mùi hương vốn dĩ quen thuộc mà có lúc nào đó bị bỏ quên đã bắt đầu trở về khi chớm sang thu để người đọc có cảm giác tưởng lạ mà quen. Hương vị thân thuộc của làng quê.
Từ “phả” có nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng, nhà thơ không tả mà chỉ gợi cho người đọc sự liên tưởng về màu vàng và hương thơm lừng tỏa ra từ những trái ổi chín nơi vườn quê Bắc Bộ. Làn gió se, nhẹ, khô và hơi lạnh của mùa thu càng làm cho hương ổi thêm nồng nàn. Mùi hương ổi chín vốn quen thuộc với người Việt nam nhưng lại xa lạ với thơ ca đã được tác giả đưa vào thơ hết sức tự nhiên. Và cũng từ đây một loạt hình ảnh quen mà lạ đã xuất hiện trong bài thơ để tạo nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ, trong sáng kì lạ. Sự kết hợp hài hòa giữa “động” và “tĩnh”, “mạnh” và “nhẹ” tạo cho câu thơ nhiều cung bậc như cảm xúc của nhà thơ lúc giao mùa.
Sau làn gió se lạnh mang theo hương ổi chín là làn sương mỏng giăng mắc, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm
“Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.”
Hai chữ “chùng chình” đã diễn tả rất nên thơ bước đi chầm chậm khi trở về của mùa thu. Và rõ ràng sự có mặt của hương ổi chín và làn sương mỏng đã khiến tác giả ngỡ ngàng, bâng khuâng khi nhận ra mùa thu đã về. Nếu như từ “bỗng” bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên của tác giả khi mùa thu về thì từ “hình như” lại thể hiện sự phỏng đoán một cách mơ hồ của tác giả. Và để cảm nhận được bức tranh đẹp đẽ đó, tác giả đã huy động tất cả các giác quan và cả sự rung động tinh tế của mình.
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã.” 
Nét độc đáo của bài thơ sự chuyển đổi tầm nhìn từ trong vườn ra ngoài ngõ rồi mở rộng ra không gian bao la bên ngoài với sông với bầu trời bao la và khép lại sự nghiền ngẫm giá trị sống trong cõi đời. Tất cả các sự vật được tác giả lựa chọn để miêu tả cảnh đất trời sang thu đều ở trạng thái ngập ngừng. Dòng sông dường như cố ý trôi một cách chậm chạp, thanh thản, nhẹ nhàng gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh mùa thu. Những cánh chim đã bắt đầu vội vã bởi vì mùa thu đã về, nó phải gấp gáp làm tổ, tha mồi chuẩn bị cho mùa đông rét mướt hoặc bay về phương Nam tránh rét. Hai tốc độ trái chiều nhau giữa chậm và nhanh của hai hình ảnh trên là quy luật tự nhiên không đồng đều ở thời điểm giao thoa của muôn loài, muôn vật những đồng thời cũng diễn tả tâm trạng con người trước đổi thay của cuộc sống.
Nét chấm phá độc đáo trong bức tranh thơ gợi nhiều suy tưởng cho người đọc có lẽ ở hai câu thơ sau:
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.”
Mùa hạ, mùa thu là hai đầu bến và đám mây là nhịp cầu ô thước vắt qua. Nhịp cầu duyên dáng nối hai bờ thời gian. Đây là một hình ảnh thơ đầy sáng tạo và thú vị của Hữu Thỉnh. Nhà thơ đã lấy không gian để miêu tả thời gian. Do đó câu thơ diễn tả cảm giác lúc giao mùa tinh tế, sống động hơn và  hình ảnh hơn. Ẩn sau hình ảnh thơ ấy, nếu tinh tế người đọc sẽ cảm nhận một thoáng bâng khuâng trong tâm trạng nhà thơ. Âm điệu hai câu thơ có phần trầm lắng trong cảm xúc nhè nhẹ mà sâu lắng. Bài thơ viết năm 1977, hai năm sau chiến tranh chống Mỹ kết thúc. Là một người lính trở về cuộc sống đời thường, cảm nhận giây phút chuyển mùa ấy, có thể bất giác Hữu Thỉnh nghĩ về những đồng đội của mình đã an nghỉ mãi mãi giữa tuổi thanh xuân mang theo cả những ước mơ khát vọng cháy bỏng “đám mây mùa hạ” cống hiến cho quê hương, Tổ quốc. Có chút gì đó nuối tiếc, có chút gì đó vấn vương, hồi tưởng như đám mây hạ nhè nhẹ trôi qua bầu trời rồi ngập ngừng nên câu thơ “vắt nửa mình sang thu” không chỉ miêu tả hình ảnh thiên nhiên vào thu mà còn lắng đọng lòng người nỗi ưu tư, trăn trở.
Nắng, mưa, sấm, chớp là những hiện tượng thiên nhiên cũng được nhà thơ nhắc đến trong thời điểm giao mùa này.
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.”
Mùa thu đến nhưng mùa hạ chưa đi nên vẫn còn bao nhiêu nắng. Cái nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng cũng đã bắt đầu nhạt dần. Và trong thời điểm giao mùa này, những cơn mưa rào mùa hạ thường hay ào ạt, bất ngờ cũng vơi dần đi. Theo đó, những tiếng sấm bất ngờ thường gắn với cơn mưa mùa hạ cũng ít đi và nó không còn làm cho những hàng cây xanh cổ thụ giật mình nữa. Những thi liệu như "nắng, sấm, mưa" là những hình ảnh đặc trưng của mùa hạ nhưng độ gay gắt của mùa hạ đang chuyển hóa thành dịu êm. Đây là dấu hiệu của mùa thu và sự phân hóa giữa hai bờ ranh giới hạ - thu cũng thật là mong manh. Người ta chỉ có thể xác định được bằng sự nhạy cảm của giác quan. Làm sao có thể đong đếm đầy vơi, nhiều ít, mau thưa? Người ta chỉ có thể ước lượng trong hồn mình mà thôi. 
Âm điệu khổ thơ trở nên trầm lắng suy tư. Có “đầy” thì có “vơi”, có “còn” thì có “hết”, có “nắng” thì có “mưa”. Đó là quy luật của tự nhiên, của cuộc đời. Chính vì thế con người phải tiếp nhận một cách an nhiên. Trong hai câu cuối của bài thơ, hình ảnh hàng cây đứng tuổi giống như một chứng nhân đang quan sát và lắng nghe sự chuyển mình của vạn vật xung quanh nó và hình ảnh này cũng là những suy ngẫm mà tác giả muốn gởi gắm trong bài thơ. Tiếng sấm chính là những vang động bất thường của ngoại cảnh, hàng cây đứng tuổi là hình ảnh những người đã từng trải. Khi con người đã từng trải, đã đi qua mùa going bão thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. Có đặt hai câu thơ trong hoàn cảnh đất nước ta những năm đầy khó khăn thử thách thì mới thấy hết được ý nghĩa của hai câu kết. Nó khẳng định bản lĩnh cứng cỏi sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.
Tóm lại, bằng các hình ảnh giàu sức biểu cảm và sự cảm nhận tinh tế, bài thơ "Sang thu" đã miêu tả thành công sự biến chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt của đất trời lúc cuối hạ sang đầu thu và qua hình ảnh thiên nhiên nhà thơ đã gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời. Bài thơ "Sang thu" đã tôn thêm vẻ đẹp cho đất nước quê hương trong tiết trời thu và khiến cho ta thêm yêu quý đất trời quê hương mình.
Thạc sĩ Hồ Thị Giáng Thu
(Giáo viên trường THCS Phan Bội Châu, quận Tân Phú)

Phân tích bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải




Lắng tai nghe…
Khúc nhạc mùa xuân đang mời gọi
Dõi mắt nhìn…
Sắc xuân lung linh tràn ngập cả đất trời.
Vâng! Xuân về đánh thức ngàn cây cỏ nội đâm chồi nảy lộc. Xuân đến còn đánh thức nguồn cảm xúc vô tận của thi nhân. Lắng lòng lại, ta nghe đâu đây sắc xuân, tình xuân đang hòa quyện trong vũ điệu giao mùa, đang rạo rực trong tâm hồn Thanh Hải để “Mùa xuân nho nhỏ” ra đời. Bài thơ với lời giản dị, tứ thơ sâu lắng nhưng ôm trọn tâm hồn đôn hậu, bình dị, thiết tha yêu cuộc sống của nhà thơ.
Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được Thanh Hải viết vào tháng 11 năm 1980, ngay trên giường bệnh và chỉ ít lâu sau tháng 12 năm 1980, nhà thơ mãi mãi ra đi. Ở giữa mùa đông giá rét của xứ Huế, đối mặt với biên giới giữa sự sống và cái chết nhưng không làm trái tim nhà thơ nguội lạnh. Ngược lại, tâm hồn thi nhân càng nảy nở, bừng sức sống để cảm nhận sâu sắc về một mùa xuân nồng ấm tình người, khiến ngòi bút nở hoa để một “Mùa xuân nho nhỏ” ấm áp tâm tình của thi nhân trước thiên nhiên, con người, cuộc sống.
Mùa xuân là mùa khởi đầu cho một năm mới, là mùa muôn hoa đua nở đem đến hương sắc, vị ngọt của sức sống, tình yêu, hạnh phúc. Trước vẻ đẹp diệu kỳ của mùa xuân, các thi nhân đều cảm nhận bằng con mắt trìu mến, thân thương. Mùa xuân hiện ra với muôn vàn sắc màu rực rỡ:
“Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời.”     (Nguyễn Trãi)
Vũ điệu của mùa xuân đã rót vào tâm hồn Thanh Hải niềm cảm xúc dâng trào. Thật đơn sơ, lặng lẽ mà mùa xuân vẫn hiện về tràn đầy sức sống trào dâng:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc.”
Giản dị mà đầm ấm xiết bao! Thanh Hải đã khéo chọn cho mình một bức tranh xuân với gam màu ấm áp, mà dịu dàng, trang nhã. Một màu xanh của dòng Hương Giang mênh mông, êm đềm, một màu tím biếc của bông hoa nhỏ bé. Sự sắp xếp hết sức cân đối hài hòa của bức tranh thơ, cái to lớn bao la không lấn át cái nhỏ nhoi, bé bỏng. Màu xanh của dòng sông làm nền cho sắc tím của hoa càng nổi bật. Chỉ vài nét phác thảo, Thanh Hải đã vẽ nên bức tranh xuân thơ mộng hài hòa. Bằng biện pháp đảo ngữ “mọc giữa dòng sông xanh”, tác giả đã tô đậm hình ảnh một bông hoa tím bé nhỏ mà tràn đầy sức sống mãnh liệt, vươn lên sự sống trong điều kiện có phần khắc nghiệt để hòa cùng vạn vật giữa vũ trụ bao la vô tận. Hình ảnh thơ thật nhẹ nhàng, thanh thoát, màu hoa tím biếc nhè nhẹ xuôi dòng Hương Giang xanh thẳm thật thơ mộng lãng mạn, quyến rũ đến lạ thường! Một màu tím thủy chung đặc trưng của con người xứ Huế mộng mơ, trầm tư, cổ kính.
Trong không gian tĩnh lặng của mùa xuân bị khuấy động bởi âm thanh ngân vang đầy trìu mến chất chứa niềm vui rộn rã:
“Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.”
Mùa xuân không chỉ với sắc màu hài hòa mà bức tranh xuân ấy bỗng nhộn nhịp hẳn lên với tiếng chim hót vang trời chào đón ngày mới. Không gian tươi vui ấy làm xao động đến tâm hồn nhạy cảm của thi nhân. Thanh Hải đang lắng tai nghe tiếng chim chiền chiện cao vút trong không trung. Tác giả đặt từ “Ơi” vào câu thơ như một lời thốt lên ngạc nhiên thích thú, như một nốt nhạc ngân vang trong bản trường ca mùa xuân vô tận. Tiếng chim hót như rót vào tâm hồn nhà thơ một niềm trìu cảm. Tâm hồn nhà thơ đang tràn ngập niềm vui để ngôn từ thốt lên “hót chi mà” như một lời trách yêu đầy thân thương. Tiếng chim chiền chiện hát vang lừng trong trẻo cao vút như nốt thăng rộn rã của mùa xuân. Tiếng hát ấy cứ kéo dài, ngân nga rồi lan tỏa hòa quyện vào bầu trời xuân kèm không gian bừng sáng, rộn ràng. Trong dòng cảm xúc tuôn trào trước mùa xuân, Thanh Hải như cảm nhận được hơi thở nồng ấm của mùa xuân, hương vị ngọt ngào của mùa xuân, sắc xuân tình xuân chan chứa:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.”
Nhà thơ đón nhận mùa xuân bằng thị giác, thính giác và cả xúc giác. Nhà thơ đưa tay hứng lấy từng giọt gì đang long lanh rơi? Giọt sương chăng? Hay giọt nắng? Hay những giọt âm thanh của tiếng chim? Mà đó chính là những giọt mùa xuân, giọt hạnh phúc của tình đời như đượm thắm cả đất trời, hòa nguyện vào tâm hồn thi sĩ. Thanh Hải xòe bàn tay mình ra để cảm nhận những hương vị ngọt ngào của mùa xuân bằng thái độ trân trọng, nâng niu áp vào trái tim mình. Tác giả đã cụ thể hóa từng giọt mùa xuân như chan hòa vào lòng đất mẹ để muôn hoa khoe sắc thắm để sức sống dâng trào, để tâm hồn con người tràn ngập niềm vui.
Trong vũ điệu của mùa xuân, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp quyến rũ của mùa xuân thiên nhiên mà con người bắt gặp mùa xuân trẻ trung, sôi nổi của con người Thanh Hải đưa ra hai hình ảnh cụ thể, tiêu biểu của đất nước đó là người lính và người nông dân:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.”
Hình ảnh lộc non là biểu tượng cho sức sống mới vươn lên. Lộc của lính là cành lá ngụy trang. Những cành lá ngụy trang biến thành lộc đầu mùa được mang đến theo từng bước chân người lính. Lộc mà người chiến sĩ mang đến cho chúng ta là xương máu mà các anh đổ xuống, là công sức bảo vệ mùa xuân thanh bình của dân tộc, gieo niềm hạnh phúc đến mọi nhà. Người lính biểu trưng cho những con người bảo vệ Tổ quốc và người nông dân là những con người tiêu biểu trong công cuộc xây dựng đất nước. Bằng hình thức sóng đôi hài hòa, âm hưởng câu thơ trở nên nhịp nhàng, cân đối. Từ bàn tay người nông dân “lộc trải dài nương mạ”. Bàn tay của “người ra đồng” tô điểm cho mùa xuân đất nước. Đôi bàn tay kì diệu của những người họa sĩ ấy đã vẽ nên những mảng xanh của niềm tin, hi vọng lên đất nước. Cũng như người cầm súng, lộc của người ra đồng mang đến cũng đáng trân trọng biết bao. Lộc mà người nông dân tặng là mồ hôi, là bát cơm gạo, là cơm no áo ấm. Người cầm súng, người ra đồng là hình ảnh rất tiêu biểu cho những con người đóng góp, cống hiến cả thân mình để làm nên mùa xuân Tổ quốc.
Giai điệu rộn rã của mùa xuân, nhịp sống con người chừng như hối hả hơn, xôn xao hơn:
“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.”
Tâm hồn con người hòa quyện vào thiên nhiên, hòa quyện vào giai điệu mùa xuân. Điệp từ “tất cả” như nhấn mạnh nhịp điệu cuộc sống, mùa xuân. Lời thơ thể hiện niềm hân hoan, rung động trong tâm hồn tác giả. Các cặp từ láy “hối hả”, “xôn xao” vừa gợi cảm vừa gợi hình, nhịp điệu khẩn trương, phấn khởi, rộn rịp, tưng bừng khơi gợi niềm vui náo động trong lòng người.
Âm hưởng của mùa xuân tràn ngập cả thiên nhiên, hòa vào tâm hồn con người những niềm rung động. Bất giác Thanh Hải chạnh lòng nghĩ đến quê hương đất nước, âm hưởng câu thơ bỗng trầm buồn, sâu lắng:
“Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.”
Trong giai điệu trầm lắng suy tư, câu thơ như đưa ta trở về với quá khứ bốn ngàn năm lịch sử. Trải dài suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước, Tổ quốc ta đã trải qua bao biến động, thăng trầm. Ngày từ buổi đầu dựng nước, dựng nước đã đứng trước nguy cơ xâm lược của kẻ thù. Câu chuyện mang màu sắc huyền sử về Thánh Gióng, cậu bé ba tuổi làng Phù Đổng cất tiếng nói đầu tiên là tiếng nói yêu nước. Một ngàn năm nô lệ cho phong kiến phương Bắc đầy đau thương, tủi nhục, những hình ảnh của những người phụ nữ kiên trinh “chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Năm 938, với chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã mở ra một kỉ nguyên mới của độc lập tự chủ. Những vần thơ bỗng trầm lắng suy tư như gợi nhớ về một thời kỳ đau thương mà anh dũng. Trong thời kỳ ấy sản sinh ra những người con trưởng thành từ đất mẹ đầy gian nan, vất vả nhưng luôn giành chiến thắng:
“Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên.”  (Nguyễn Đình Thi)
Đã qua bao cuộc biến động của lịch sử, đất nước, con người Việt Nam vẫn kiên cường anh dũng, hiên ngang vượt qua những thử thách đầy cam go, quyết liệt. Từ “cứ” vang lên như một lời khẳng khái hùng hồn, một niềm tin bất diệt của Thanh Hải về tương lai đất nước đẹp lung linh, lấp lánh như những vì sao trên bầu trời Tổ quốc. Đó là cách so sánh thật độc đáo và mới lạ, là sức liên tưởng vừa hiện thực vừa lãng mạn như khơi gợi trong lòng người đọc một hình ảnh đẹp về tình yêu quê hương đất nước.
Trong cảm xúc về mùa xuân đang dâng trào nhà thơ bỗng muốn hóa thân:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
Cái giai điệu nhè nhẹ, du dương, êm ái, ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp, những luyến láy, điệp ngữ “ta làm…, ta làm…, ta nhập” cứ xôn xao, réo rắt mãi trong lòng người đọc, chừng như ta được bay bổng theo ước mơ của tác giả. Các động từ “làm”, “nhập” thể hiện một sự hóa thân kì diệu. Cái “ta” bây giờ không còn riêng là cái ta của tác giả mà nó đã hòa nhập, đồng điệu với cái ta của tất cả mọi người. Các hình ảnh “con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm xao xuyến” mang ý nghĩa biểu lộ một lẽ sống, niềm tâm niệm của Thanh Hải đối với Tổ quốc, Nhân dân. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh – Hoài Chân đã từng nhận xét: “Mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào tâm hồn” (Thi nhân Việt Nam). Vâng! Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã mở cửa cho tất cả chúng ta cảm nhận một trái tim khiêm tốn bình dị, đôn hậu, chân thành của nhà thơ. Không ước mơ cao xa, Thanh Hải chỉ nhỏ nhẹ xin làm một tiếng chim hót góp tiếng ca tươi vui vào giai điệu rộn rã của mùa xuân, một cánh hoa nhỏ bé giữa rừng hoa muôn ngàn sắc thắm của dân tộc. Thanh Hải đã khéo mượn vẻ đẹp thanh khiết của thiên nhiên, cuộc đời để thể hiện niềm mong ước thiết tha được sống có ích, đem lại hương sắc, niềm vui tô điểm cho mùa xuân đất nước. Khát vọng sống là trọn đời hiến dâng của Thanh Hải cũng gặp được nét đồng điệu trong tâm hồn các nhà thơ khác:
“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là đâu chỉ nhận riêng mình.”      (Tố Hữu)
Nhà thơ cũng có ước mơ nguyện sống là phải cho, phải cống hiến. Đó là quan niệm sống đẹp đúng đắn. Say trong vũ khúc mùa xuân, khúc nhạc lòng Thanh Hải cứ ngân lên như cây đàn muôn điệu. Đọc khổ thơ ta mới cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và khát vọng cháy bỏng cống hiến cho đời. Trong bản hòa ca trầm bổng của mùa xuân, Thanh Hải chỉ mong được làm một và chỉ một “nốt trầm xao xuyến”. Một nốt trầm ấy lặng lẽ, đơn sơ, nhỏ nhẹ nhưng lại không thể thiếu trong bản giao hưởng mùa xuân. Cái âm thanh trầm lắng của nốt trầm trong bản hòa ca càng làm tăng thêm sức gợi cảm trong giai điệu gọi mùa “Em ơi! Mùa xuân đến rồi đó!”. Cảm hứng ấy càng thêm mãnh liệt khi ta ngâm khẽ những vần thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. Âm hưởng của nốt trầm ấy cứ mãi du dương để lại dư âm ngọt ngào trong lòng người sau những nốt thăng cao vút, rộn rã của cuộc đời. Thật khiêm nhường nhà thơ nguyện được hóa thân thành “nốt trầm xao xuyến” để nhập vào khúc ca tiếng hát của cuộc đời một cách âm thầm, lặng lẽ, muốn đem tài năng, sức lực nho nhỏ của mình để góp phần cho sự nghiệp xây dựng hòa bình, đổi mới của đất nước.
Tất cả khát vọng như lắng lại trong tâm hồn nhà thơ như một niềm cảm xúc:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời.”
Mùa xuân là khái niệm trừu tượng chỉ thời gian. Thanh Hải đã cụ thể hình ảnh “nho nhỏ” thể hiện một tâm hồn bình dị, lặng lẽ cống hiến. Lặng lẽ thôi mà sao đẹp biết bao, dạt dào như sóng triều dâng. Trong lời tự tình của tác giả làm chúng ta liên tưởng đến những con người trong “Lặng lẽ SaPa” của Nguyễn Thành Long, người chiến sĩ của Lê Anh Xuân trong “Dáng đứng Việt Nam”:
“Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”   (Lê Anh Xuân)
Lật tiếp những dòng thơ của Thanh Hải, ta lại liên tưởng đến những chiến sĩ, những cô gái thanh niên xung phong đã miệt mài, âm thầm cống hiến cả tuổi xuân phơi phới tươi đẹp cho Tổ quốc:
“Em đã lấy tình yêu Tổ quốc thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom.”  (Lâm Thị Mỹ Dạ)
Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại bảo vệ Tổ quốc, cống hiến luôn là khát vọng cháy bỏng ngày đêm thường trực trong tâm hồn Thanh Hải. Trở về với dòng chảy lịch sử cách đây sáu trăm năm, Nguyễn Trãi đã khẳng định tấm lòng trung hiếu sắt son với đất nước:
“Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.”  (Thuật hứng XXIV)
Thanh Hải ngay trên giường bệnh trong điều kiện khắc nghiệt vẫn khẳng định khát vọng cống hiến trọn cả cuộc đời cho Tổ quốc:
“Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
Điệp ngữ “dù là” thể hiện một chân lý, một giá trị sống, cống hiến trọn đời mình. Câu thơ mang âm hưởng mạnh mẽ, khẳng khái như lời nguyện cầu thành tâm nhất của Thanh Hải trước lúc ra đi. Lời tâm nguyện ấy thật thủy chung, son sắt vững bền. Ngay trong tuổi xanh tràn đầy sức sống hay khi đã về già, ngọn lửa nhiệt tình vẫn không bao giờ lịm tắt. Thanh Hải chỉ xin làm một mùa xuân nho nhỏ trong hàng triệu mùa xuân nho nhỏ khác để được suốt đời góp phần cho “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Lê Anh Xuân)
Khổ thơ cuối đã kết thúc bài thơ trong âm điệu nhẹ nhàng êm ả như giọng hò xứ Huế:
“Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.”
Vẫn trái tim dào dạt yêu quê hương, Thanh Hải chọn khúc hát giữa mùa xuân. Giai điệu êm ái Nam ai, Nam bình, thiết tha hiền hòa như con người Việt Nam. Dù ở trên mảnh đất “nước non nghìn dặm” hay ở bất đâu cũng đẹp, cũng gắn liền với tình cảm con người:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.”  (Chế Lan Viên)
Thanh Hải với niềm tin yêu trìu mến quê hương, nhà thơ hết sức khéo léo khi chọn dòng sông, sắc màu, âm thanh, điệu hát đều gắn chặt với quê hương và dường như nhà thơ muốn ôm trọn tất cả hình ảnh ấy trước khi về cõi vĩnh hằng. Bằng điệp ngữ “nước non ngàn dặm” kết hợp gieo vần bằng “bình, mình, tình” đã tạo âm hưởng bài thơ nhẹ nhàng như câu hò xứ Huế cứ ngân dài mãi ra rồi lắng đọng lại trong lòng chúng ta những cảm xúc chân thành, ru hồn người đọc trên con đò xứ Huế êm ả trôi nhẹ trên sông Hương rồi khép lại trong ân hưởng rộn ràng, xao động của “nhịp phách tiền” đầy xao xuyến.
Trang sách đã khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng mãi như khơi gợi trong lòng chúng ta về một tình cảm cao đẹp của con người. Chính tình yêu thiên nhiên, khát vọng dâng hiến của Thanh Hải làm xao xuyến rung động biết bao trái tim người đọc. Bài thơ cứ nhẹ nhàng, thấm thía tự nhiên đi vào lòng người như một bài học sâu sắc về lẽ sống đẹp, cách ứng xử đầy nhân văn, tấm gương cao thượng trong sáng của Thanh Hải làm ta trân trọng, khâm phục và tự ngẫm phải sống sao cho xứng đáng với Tổ quốc, Nhân dân.
Đào Thị Kim Ngân (Cựu học sinh THCS Hoàng Hoa Thám, học sinh giỏi văn thành phố)

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

Dàn ý tổng quát cho một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích)

Dạng 3 : Phân tích một  đoạn văn ngắn trong tác phẩm truyện :
Đề : Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu trong giây phút chia tay cha được thể hiện trong đoạn trích sau :
“Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoại đến rất đông - Cả con bé cũng theo ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa. Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.
Ðến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba... a... a... ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Ðó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng "Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.”
(Trích Chiếc Lược Ngà,Nguyễn Quang Sáng)
Gợi ý:
I. Mở bài:
Nguyễn Quang Sáng là một gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà văn – chiến sĩ. Các sáng tác của ông là những trải nghiệm sâu sắc thời chiến tranh, là những khám phá mới mẻ và ý nghĩa về những phẩm chất tốt đẹp của người lính, những tình cảm của con người. “Chiếc lược ngà”  là một truyện ngắn thể hiện rất rõ điều đó. Qua việc xây dựng nhân vật bé Thu với những khúc đoạn tâm lí tinh tế, tác giả đã cho người đọc thấm thía nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra và cảm nhận được trọn vẹn những tình cảm thiêng liêng nhất trong mỗi người. Hình ảnh cô bé Thu  trong giây phút chia tay cha giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về nỗi đau mà trẻ thơ phải chịu đựng trong cuộc chiến ác liệt : nỗi đau thiếu cha.
II. Thân bài:
1. Khái quát (Dẫn dắt vào bài – Tóm tắt đoạn trích):
Nhân vật bé Thu trong truyện là một cô bé hồn nhiên dễ thương nhưng cũng như bao cảnh ngộ không hiếm gặp thời chiến tranh, em chưa bao giờ được gặp ba và cất tiếng gọi ba. Chiến tranh tàn khốc, nó đã tước đoạt đi cả niềm hạnh phúc nhỏ bé nhất. Và như một lẽ thường tình, được gặp ba, được gọi ba, được ôm ba vào lòng là ước mơ, là khao  khát, là hạnh phúc lớn nhất mà cô bé đã và đang chờ đợi.
Nhưng khi ba trở về, mọi chuyện lại không như bé Thu tưởng tượng. Chỉ vì người đàn ông ấy không giống trong bức ảnh mà nó có. Chiến tranh – nó đã khiến con người chia biệt, xa cách và giờ đây nó tước đoạt đi cả niềm vui đoàn tụ.Trong ba ngày ông Sáu ở nhà, cô bé hoàn toàn lạnh lùng và phớt lờ ông. Ông Sáu càng muốn gần con thì Thu lại càng xa cách với một thái độ ương ngạnh, bướng bỉnh. Nó phớt lờ ngay cả lời nói của mẹ, nói trống không với ba: “Vô ăn cơm”, “Cơm chín rồi!”, “Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”. Những câu nói vô lễ ấy xuất phát từ tính cách ương ngạnh của bé Thu. Và hơn hết từ chính tình cảm, những mong đợi của đứa trẻ không biết mặt ba. Trong hình dung của cô bé, cha không có vết sẹo dài trên mặt. Và khi bị bắt buộc, nó gọi ba là người ta đầy lạnh lẽo. Cho đến lúc bị dồn vào thế bí, nó thà tự giải quyết còn hơn nhận sự giúp đỡ của ông Sáu. Nó khước từ mọi sự quan tâm chăm sóc nhỏ bé nhất của ông Sáu, được gắp cho một miếng trứng thì nó “bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe” và sau đó giận ba, bỏ sang nhà bà vì ba đã đánh nó. Người đọc không giận bé Thu mà chỉ thấy cảm thương và xót xa. Tất cả cũng chỉ vì vết thẹo – một dấu vết của chiến tranh để lại đã là bức tường ngăn không cho đứa con nhận cha và để lại nỗi đau tê tái trong lòng một người cha. Thái độ cương quyết của cô bé thực chất là kết quả của một cá tính mạnh mẽ, là biểu hiện của tình yêu sâu thẳm trái tim, một sự ngưỡng mộ với người cha đích thực của mình.
2. Phân tích những giá trị nội dung tác phẩm đoạn trích : ( dựa theo từng chi tiết , câu văn)
2.1.Hành động, thái độ, tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu trong buổi chia tay:
Sau đêm bé Thu bỏ sang nhà bà, nó đã được bà giải thích về vết sẹo trên mặt ba và Thu đã hiểu rằng người mà nó khước từ bấy lâu nay chính là ba nó. Cô bé quay trở về nhận ba. Giây phút Thu nhận ba cũng là giây phút cuối cùng ba con gặp nhau, sẽ chẳng có cuộc gặp gỡ nào  nữa. Như một sợi dây vô hình của tình phụ tử đang níu giữ, con bé tới buổi tạm biệt ba với một tâm trạng hết sức đặc biệt. Vẻ mặt của nó hơi khác, không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có. Vẻ mặt buồn rầu ủ dột ấy là do ân hận, day vò hay một mối linh cảm chẳng lành sắp có thể xảy đễn. Người đọc còn bị ám ảnh bởi ánh nhìn của bé Thu. Cái nhìn ấy không ngơ ngác lạ lùng mà thực chất chứa những suy nghĩ sâu xa. Nhưng xúc động nhất là khi Nguyễn Quang Sáng miêu tả ánh mắt của bé Thu bắt gặp “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” của ba nó, đôi mắt mênh mông của cô bé bỗng xôn xao. Đó là biết bao xúc động, một sự đồng cảm đến kỳ lạ. Chỉ với một cái nhìn mà cô bé như đọc thấu cả những tình cảm yêu thương, những nuối tiếc và đau xót trong lòng ba nó. Chỉ có thể là tình phụ tử thiêng liêng mới làm được điều này.Bé Thu đã có sự thay đổi thái độ rõ rệt. Nhà văn miêu tả cô bé như già hơn so với tuổi “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngúc, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Người đọc hiểu rằng chắc hẳn đang có sự giằng co, day dứt trong lòng bé.
2.2.Hành động, thái độ, tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu khi gọi “ba”:
Và hơn thế nữa, niềm khát khao mà tám năm nay Thu kìm nén đã bật lên từ sâu thẳm con tim. Con bé đã thét lên một tiếng gọi với một chuỗi âm thanh vừa đứt đoạn vừa nức nở: “ba….a…a…a”. Tiếng thét ấy như tiếng xé, tiếng xe đi sự tĩnh lặng và xé cả ruột gan con người. Nghe thật xót xa! Tiếng gọi ấy đã đánh thức một tình cảm thiêng liêng mà chỉ trong xa cách con người ta mới có thể hiểu hết và chỉ vào giây phút này, tất cả như vỡ òa. Tiếng thét nức nở của em như trả lời cho tất cả : “Ba…a…a…ba”, tiếng thét vỡ oà sau bao lâu câm lặng, tiếng thét của tình thương và nỗi nhớ cha da diết. Tác giả đi sâu miêu tả thanh âm thiêng liêng, kì diệu đó : “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”. Tình yêu với người cha sau bao năm xa cách giờ như bùng cháy.
Ngay sau tiếng gọi ba, con bé “nhanh như một con sóc, chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba”, “nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó”. Đó như là cách để cô bé bù đặp những nỗi đau, những tổn thương đã gây ra cho ba. Và khi cuộc chia tay sắp kết thúc “nó dang cả hai chân câu chặt lấy ba nó”. Qua hành động cuống quýt ấy ta như cảm nhận được thấy bao nhiêu níu kéo, phấp phỏng, sợ rằng ba sẽ lại đi, sẽ đi không được gặp ba nữa. Đoạn văn có nhịp điệu nhanh thể hiện sự mạnh mẽ, dào dạt của suối nguồn tình cảm yêu thương. Bé Thu thật đáng thương bởi giây phút nhận cha cũng là giây phút em phải chia tay ba. Hạnh phúc đến với em ngắn ngủi quá. Như ý thức được điều đó, Thu ra sức níu giữ : “hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó run run”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã vượt qua các họa sĩ hay nhiếp ảnh gia để tạo dựng một cảnh chia tay đẫm nước mắt bằng ngôn từ thông qua việc lựa chọn câu chữ giàu chất tạo hình, biểu cảm. Hành động của bé Thu chứng tỏ em yêu và nhớ ông Sáu biết chừng nào. Câu hỏi tại sao bé Thu không nhận ông Sáu là cha đến đây đã được giải đáp : “té ra nó không nhận ba nó là vì cái vết thẹo” vì “ba không giống cái hình ba chụp với má“. Từ nhận thức ngây thơ, trong sáng của con trẻ, nhà văn đã lên tiếng tố cáo sự tàn ác của chiến tranh. Vì chiến tranh mà cha con ông Sáu phải xa cách, vì chiến tranh mà con không nhận ra ba. Chiến tranh khiến cho cả những đứa trẻ ngây thơ cũng phải hi sinh.
Thu chấp nhận để ông Sáu ra đi và không quên kèm theo lời dặn trong nước mắt : “Ba về ! Ba mua cho con một cây lược nghe ba ”. Đặc biệt, tình yêu thương cha vô bờ của bé Thu còn được thể hiện trong ước mơ mà con bé gửi cho ba. Bởi với một người con gái, người ba không chỉ là chỗ dựa bình yên mà còn là người có thể giúp con biến mơ ước thành hiện thực. Từ mơ ước giản dị  ấy của bé Thu, người đọc thấy được bao tình cảm sâu kín nơi em. Bất chấp sự khốc liệt của chiến tranh, theo thời g ian, bé Thu đang dần trưởng thành, nét nữ tính của một người con gái vẫn lặng lẽ lớn dần lên. Và chỉ khi đang được sống trọn vẹn  trong tình phụ tử, cô bé mới sẻ chia cùng ba những điều tuyệt vời nhất của một người con gái. Có lẽ vì thấu hiểu điều ấy mà nơi chiến trường ông chưa bao giờ quên ước mơ của con gái, chăm chút cho chiếc lược ngà, mong mỏi đến ngày mơ ước của con thành hiện thực.
3. Đánh giá, bình luận:
Bằng một ngòi bút sắc sảo và tràn đầy tình thương, Nguyễn Quang sáng đã khắc họa từng cung bậc tình cảm, từng trạng thái tinh vi nhất trong tâm hồn bé Thu. Từ ương ngạnh, khước từ mọi sự quan tâm tới khi vỡ lẽ, hối hận, xúc động. Diễn biến tâm trạng ấy cho ta hiểu được rõ nét tính cách bé Thu – một cô bé cá tính, giàu yêu thương. Chiến tranh khốc liệt không chỉ tàn phá bao nhiêu làng mạc, cây cối, đường phá mà nó còn để lại những vết sẹo không thể xóa đi trên gương mặt, trên hình hài mỗi người lính, để rồi trở thành bức tường vô hình ngăn cản tình cảm thiêng liêng của con người. Nhưng trên tất cả, tình phụ tử vẫn vượt lên và chiến thắng tất cả. Có hạnh phúc nào không đi liền với những vất vả, hi sinh, có niềm vui nào không phải trải qua thời gian cảm nhận và thấu hiểu. Tình cha con sâu nặng không chỉ nối kết trái tim mỗi người mà còn có sức động viên lớn lao, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời. Dẫu phải chia xa nhưng tình cảm của đứa con sẽ theo người cha trên bước đường hành quân, là động lực để người lính chiến đấu. Còn với người con, tình cảm với người cha là ánh đèn soi rọi để mai này từ một cô bé ương ngạnh trở thành một cô giao liên dũng cảm. Tất cả những tình cảm ấy được khắc ghi trong kỉ vật thiêng liêng – chiếc lược ngà. Đó cũng chính là nhan đề của tác phẩm, là biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử, là một nốt trầm xao xuyến mà Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng mỗi trái tim người đọc.
III. Kết bài:
Câu chuyện đã khép lại mà vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng gọi ba đến xé lòng của bé Thu. Đó thực sự là một vang âm ám ảnh trong lòng người đọc hôm nay và mai sau…Chiếc lược ngà không phải là tác phẩm dành cho những người đọc vội vàng. Từng dòng chữ không phải để đọc một lần rồi lướt qua mà nó có sức ngân vang sâu xa, đánh thức từng miền sâu thẳm trong trái tim con người. Ta sẽ nhớ mãi từng cung bậc tâm trạng cảm xúc của bé Thu, sẽ nhớ mãi một tình cảm giản dị mà thiêng liêng – tình phụ tử.