Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Giọt nước mắt của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa của cha con ông Sáu

 

Em hãy viết bài văn trình bày cảm nhận về giọt nước mắt của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa của cha con ông Sáu trong đoạn trích:

Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, ông Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.

Chắc ông cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên ông chỉ đứng nhìn nó. Ông nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.

Thôi! Ba đi nghe con! – Ông Sáu khe khẽ nói.

Chúng tôi, mọi người – kể cả ông, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:

- Ba...a...a...ba!

Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhông như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên.

Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:

- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!

Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.

[…]Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, ông Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:

- Ba đi rồi ba về với con.

- Không! – Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run.

Nhìn cảnh ấy, bà con xung quông có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi.

(Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng)

Sau đó, liên hệ thực tế cuộc sống hay với một tác phẩm khác để làm nổi bật tình cha con sâu nặng.

Bài làm

Tựa như mặt nước ngọt lành và trong veo đến lạ, văn chương luôn phản chiếu nội tâm con người. Bởi thế mà lật giở từng trang sách “Chiếc lược ngà” ta như mở từng cánh cửa, từng bước khám phá tình yêu thương da diết, chân thành dành cho con sâu trong lòng một người cha, người lính. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, kể về tình cha con tha thiết giữa ông Sáu và bé Thu trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le. Xuyên suốt tác phẩm là tình phụ tử của ông Sáu và bé Thu với những chi tiết, hành động khiến người đọc thổn thức, xót xa. Câu chuyện với nhiều tình tiết hấp dẫn đã lấy đi những giọt nước mắt yêu thương của người đọc, nhiều nhất phải nói đến cảnh trước lúc ông Sáu mang ba lô trở lại chiến trường.

Được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất, truyện ngắn tuy viết về chiến trông nhưng lại tập trung làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng cao quý. Câu chuyện kể về hoàn cảnh của ông Sáu và bé Thu đoàn tụ sau tám năm xa cách. Ngày từ chiến trường trở về, con bé không nhận ông là cha vì vết sẹo in dài trên má. Đến lúc bé Thu hiểu ra mọi chuyện thì ông Sáu lại phải lên đường. Niềm vui đoàn viên chưa trọn vẹn kéo theo những nỗi luyến tiếc khắp chặng đường hành quân sau đó. Ở khu căn cứ, ông dành tất cả tình cảm yêu thương tỉ mỉ mài khúc ngà voi thành chiếc lược định bụng sẽ làm quà tặng nhân ngày trở về. Thế nhưng mong muốn ấy đành dang dở vì bom đạn kẻ thù đã hạ gục ông giữa rừng cùng chiếc lược ngà gửi lại đồng đội mang về cho con. Đọc Chiếc lược ngà, ta mới cảm nhận được tình cảm gia đình đặc biệt là tình cảm cha con cao đẹp đến nhường nào. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng mà không một thứ bom đạn nào có thể tiêu diệt được.

Người cha, người lính trên trang viết Nguyễn Quang Sáng tìm mọi cách làm đủ mọi điều để có được tình cảm từ con. Trong những ngày ông Sáu ở nhà, vì vết thẹo dữ tợn ở bên má phải mà bé Thu cho rằng ông Sáu là người xa lạ, là kẻ xấu, bé nhất định không nhận ba mặc cho ông Sáu dỗ dành, cưng chiều. Đến bữa cơm cuối cùng trước lúc ra đi, ông Sáu gắp cái trứng cá cho bé Thu nhưng nó đã hất ra làm cơm văng tung toé khắp mâm. Trong lúc giận giữ ông Sáu đánh bé Thu. Bé Thu im lặng gắp trứng cá bỏ vào bát rồi chèo xuồng sang nhà bà ngoại. Ở đây, bé Thu được bà ngoại giải thích, em nhận ra ba nhưng vì trời tối bé ngủ lại nhà bà sáng mai mới về. Thu đâu ngờ lúc mình nhận ra ba cũng là lúc ba phải ra đi, bé Thu đứng ở góc nhà, một phần là vì để người lớn chuẩn bị, một phần có lẽ do bé buồn, buồn vì ba phải đi, buồn vì những hành động ngốc nghếch của mình. Bé đứng đó vì muốn nhìn rõ ba hơn, muốn nhìn cả dáng người ba, người mà mẹ, mà bản thân luôn mong chờ suốt mấy năm qua. Bé Thu đứng đó cũng có thể do bé cô đơn, bé cảm thấy  ba không quan tâm thương yêu mình nữa.

Ông Sáu đã làm nhiều điều cho con chỉ để mong con bé gọi một tiếng “ba’” thế nhưng vẫn không được. Lúc sắp ra đi, ông không còn nỗi giận nữa mà nhìn con với ánh mắt trìu mến pha chút buồn và bất lực. Ông cũng không dám đến bế nó, chỉ sợ nó lại hất ông ra. Nhưng ông nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Có lẽ tình yêu của cha lớn đến nỗi không muốn làm con bé sợ, ông muốn nó luôn nhớ về ông với hình ảnh dịu dàng chứ không phải là sợ hãi. Nhưng bất ngờ thay bé Thu bỗng gọi một tiếng ba, và ôm cổ ba khóc. Cuối cùng thì ông Sáu cũng đã được toại nguyện.Tiếng gọi ba mà anh hằng tha thiết khao khát được vang lên trong giây phút cuối cùng của cuộc hội ngộ. Ông Sáu lại phải chia tay gia đình trở về kháng chiến. Có lẽ nếu tiếng gọi ấy không vang lên sẽ trở thành nuối tiếc lớn nhất cuộc đời của ông Sáu và cả bé Thu nữa. Bởi lẽ “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, mấy người đi biết có trở về, biết đâu đây là lần gặp cuối. Ông Sáu sẽ mãi hối tiếc vì không được nghe tiếng gọi thân thương thiêng liêng. Ông khao khát nghe bé Thu gọi ba, và giờ đây khi bé Thu gọi ông xúc động đến nỗi chảy nước mắt, nhưng lại không muốn con thấy mình khóc “một tay ông om con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Một người đàn ông đã từng vào sinh ra tử, lăn lộn nơi chiến trường máu lửa còn không sợ, không rơi nước mắt. Vậy mà trước tình cảm của đứa con nhỏ bé nước mắt lại chảy cho thấy tình cảm của ông sâu nặng thế nào. Có lẽ đó là tình cảm ông khao khát từ lâu. Người được làm cha mà bây giờ mới được nghe tiếng gọi, đó là tiếng gọi của tình thân hơn tám năm ông ở chiến trường mong đợi. Giọt nước mắt của ông Sáu rơi xuống, đã ngân vang sự bất ngờ đang reo lên thánh thót, đã lấp lánh niềm hạnh phúc vô bờ của một người cha lần đầu được nghe con gọi ba sau bao nhiêu mong mỏi. Giọt nước mắt đã gột rửa đi mọi buồn khổ để nhường chỗ cho một niềm vui tươi sáng. Nhưng thực cảnh miền Nam thân yêu bấy giờ vẫn còn rất tối tăm. Đây cũng có thể là giây phút cuối cùng cha con được ở cạnh nhau. Vì vậy trong giọt lệ ấy vẫn có cả nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối. Và ông Sáu vẫn phải tạm biệt con, lên đường đánh giặc.

Còn bé Thu nếu không cô gọi tiếng ba sẽ mãi tiếc nuối vì chẳng kịp nhận cha. Nhưng cuối cùng may mắn đã mỉm cười, mọi chuyện đã vỡ lẽ ra. Thu không nhận ông Sáu vì người cha mà con bé xem hình không có vết sẹo dài trên mặt. Nó không hận không oán trách cha nó khi ông không ở bên cạnh nó trong những ngày tháng thơ bé, nó luôn yêu thương trân quý bức hình của cha nó. Chính vì yêu thương nên nó không thể chấp nhận một người có ngoại hình khác với bức ảnh làm cha.Nhưng khi hiểu ra vết sẹo ấy là do chiến tranh gây ra, đó chính là người cha mà nó hằng mong đợi bấy lâu thì mọi cảm xúc vỡ òa. Bức tường thành kiên cố trong lòng nó cũng sụp đỏ, chỉ còn tình yêu thương. Bé cất tiếng gọi ba.  Lời chào của ông Sáu cất lên khe khẽ mà như làm chấn động cả mảnh hồn bé nhỏ. “Đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Từ “xôn xao” thật đắc địa, vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của Thu. Nó bao la, bâng khuâng và lẻ loi kỳ lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha, là nỗi sợ thêm một lần chia ly mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa. Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi. Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. Và nó vừa kêu, vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:-Ba! Không cho ba đi nữa!Ba ở nhà với con!”.Tình cảm con với ba được thể hiện một cách mãnh liệt, mạnh mẽ, cuống quýt, hối hả và có xen lẫn phần hối hận. Đó là những cảm xúc đã dồn nén từ lâu bỗng vỡ òa ra: “Ba bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc,hôn cổ, hôn vai, và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con , giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha cho bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua, và còn xuất phát từ nỗi sợ rằng sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí ko bao giờ em được gặp ông Sáu lần thứ hai. Tình yêu Thu dành cho ba qua cách thể hiện ngây ngô, vụng về lại càng đáng quý, xúc động hơn. Bà con và người kể chuyện cũng như người đọc không thể kìm được nỗi xúc động như có ai đang nắm chặt tim mình bởi vì cái éo le của tình cha con ở đây. Thật xúc động biết bao, chỉ với những hành động này đã giúp ta cảm nhận về nhân vật bé Thu một cách đầy sâu sắc.

Tình yêu thương là một sợi dây mong manh vô hình có thể mong manh dễ bị tác động nhưng nó vô cùng bền chặt. Điển hình chính là tình yêu thương của bé Thu và ông Sáu. Càng kiên định bao nhiêu trong việc không nhận ông Sáu làm cha thì lại càng yêu thương bấy nhiêu khi nhận ra cha. Con bé không nỡ rời xa người cha mà nó vừa nhận ra. Ông Sáu cũng vậy, ông cũng muốn ở lại bên cạnh con tận hưởng thêm chút tình yêu thương gia đình mà ông vừa nhận được. Tuy rất yêu thương con nhưng ông cũng phải gác lại tình yêu thương ấy để lên đường hoàn thành nhiệm vụ sứ mệnh với đất nước. Lúc cha con nhận nhau lại cũng chính là lúc người cha phải ra đi. Sự níu kéo của đứa con càng khắc nhấn sự éo le của chiến tranh: “Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Những nỗ lực của Thu không giữ được ba nó. Ông Sáu vẫn phải ra đi. Giây phút cha con nhận nhau thật ngắn ngủi! Xót thương thay cho Thu bởi cô đâu hiểu rằng cuộc gặp gỡ đầu tiên này cũng là lần cuối cùng. Ba cô đã hi sinh trong một trận càn. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.

Thông qua điểm nhìn của bác Ba, Nguyễn Quang Sáng đã miêu tả nội tâm nhân vật một cách sâu sắc và hợp lý, mỗi nhân vật có một giọng điệu riêng, ngôn ngữ riêng, tính cách riêng mang đậm đặc trưng Nam Bộ với diễn biến tâm lý phù hợp. Nguyễn Quang Sáng đã rất tài tình khi khắc họa tình cảm chân thành của ông Sáu và bé Thu. Đó là tình cảm cha con sâu nặng, là tiếng hát trong trẻo cất lên giữa tiếng đạn bom gào thét. Đọc những câu văn mộc mạc trên trang sách Chiếc lược ngà mà sao ta cứ cảm thấy có gì đó thật ấm áp trong lòng. Một tình huống hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quông những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý; cách kể chuyện của tự nhiên và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ như chất củi nhen lên ánh sáng yêu thương nồng ấm tình cha con giữa bé Thu và ông Sáu đ, xua tan bao giá lạnh của thời chiến trông khắc khổ. “Chiếc lược ngà” vượt lên con nước bạc của thời gian để khẳng định sức sống vĩnh hằng và câu chuyện cha con ông Sáu – bé Thu mãi mãi là bài ca đẹp - bài ca mang giá trị nhân bản sâu sắc, ở mãi trong lòng người.

·         Liên hệ tình phụ tử trong cuộc sống

Tình phụ tử là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất trong đời sống này. Nếu không có cha mẹ khó khăn vất vả hi sinh thì sẽ không ta của ngày ngày hôm nay. Tình phụ tử chính là bệ đỡ nâng đỡ tâm hồn ta. Có thể, cha là người ít thể hiện cảm hứng ra ngoài nhưng điều không có nghĩa là cha không buồn, không xúc động trước mọi việc xảy ra với con cái. Cha vẫn luôn yêu thương, chăm sóc và chuẩn bị sẵn sàng vươn đôi tay to lớn ra để bảo vệ con cháu. Sau mỗi lần trách mắng, mỗi lần trách phạt lòng của cha còn đau hơn cả tất cả chúng ta … Cha là trụ cột mái ấm gia đình – một trụ cột về cả kinh tế tài chính và niềm tin. Là người đứng sau sống lưng và theo sát ta trong mỗi bước chân chập chững. Khi ta vấp ngã, cha không đưa tay ra đỡ, không làm hộ ta những điều ta phải làm mà cha nâng đỡ tạo thêm động lực cho ta triển khai và triển khai xong bản thân. Những khó khăn, lắng lo của cha ít bộc lộ ra nhưng có khi nào bạn chú ý quan tâm sống lưng áo của cha ướt đẫm mồ hôi, bạc phếch đi theo năm tháng? Có khi nào bạn chú ý quan tâm đuôi mắt cha cũng đã đầy những nếp nhăn, mái tóc của cha đã điểm bạc hơn? Và có khi nào bạn quan tâm những lần cha thao thức ngắm nhìn xa xăm lo ngại cho đời sống mưu sinh ? … Hãy ngắm nhìn những điều đó để thêm trân quý tình cảm cha dành cho ta. Như hình ảnh ông Sáu ngồi miệt mài tỉ mỉ làm từng chiếc răng lược chỉ vì lời hứa với bé Thu “ mua cho con một chiếc lược trong tác phẩm “Chiếc lược ngà ” của Nguyễn Quang Sáng. Tuy sau cuối ông Sáu hi sinh, nhưng trước lúc nhắm mắt ông vẫn nghĩ về con gái. Chính con cháu là động lực để cha vượt qua mọi khó khăn vất vả. Cha mẹ hoàn toàn có thể vì tương lai của con mình mà gật đầu và sẵn sàng đánh đổi tất cả. Hãy mãi mãi khắc ghi trong lòng. Đừng để khi cha mẹ tóc đã bạc phai mà bạn vẫn chưa làm gì để phụng dưỡng.

Mỗi tất cả chúng ta dù nhỏ bé thất bại hay dù vĩ đại thành công xuất sắc thì hãy luôn nhớ về cha mẹ những người đã chắp cánh tham vọng cho ta, nâng đỡ ta trong đời sống này. Qua tác phẩm“Chiếc lược ngà ” của Nguyễn Quang Sáng, ta nhận ra tình cha con thiêng liêng sâu sắc biết nhường nào. Tình phụ tử cũng như những tình cảm gia đình khác đều trở thành mạch nguồn của tình yêu quê hương đất nước. Đó là nơi dựa, là điểm tựa tinh thần cho mỗi người…Đọc “Chiếc lược ngà”, ta trân trọng hơn những người thân yêu bên cạnh mình, trân trọng hơn tình cảm gia đình gắn bó bền chặt. Tình cảm cha con dù có thế nào cũng vẫn luôn là những tình cảm chân thành nhất, yêu thương nhất.

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

Khổ 1, 2 Viếng lăng Bác- Viễn Phương: giá trị của kỉ niệm, lối sống ân nghĩa thủy chung.

 

Đề. Sống đâu chỉ là miệt mài bước đi để rồi bỏ quên những điều xưa cũ nhưng ẩn chứa vô vàn ý nghĩa. Văn chương lắng đọng và khơi gợi tâm hồn ta kí ức một thời. Em hãy viết bài văn làm rõ kỉ niệm lần đầu nhà thơ Viễn Phương ra thăm Bác đầy cảm xúc kính yêu biết ơn nghẹn ngào qua đoạn thơ:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

 

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...

(Viếng lăng Bác- Viễn Phương)

Sau đó, liên hệ với một tác phẩm khác hay thực tế cuộc sống để làm nổi bật giá trị của kỉ niệm, lối sống ân nghĩa thủy chung.

Bài làm

"Mỗi khi lòng ta xao xuyến rung rinh

Môi ta thầm kêu Bác: Hồ Chí Minh!" ( Sáng tháng năm - Tố Hữu )

Bác Hồ - tiếng gọi trìu mến trên môi mọi người, tiếng gọi thân thương đã hoà vào dòng máu của những người con đất Việt. Người là nguồn cảm hứng bất tận trong làng văn học nước nhà, "tên Người là cả một niềm thơ". Mỗi thi phẩm viết về Bác tựa như một ô cửa mở ra cảm xúc dạt dào, lòng kính yêu cùng niềm rung động khôn nguôi. Bài thơ Viếng lăng Bác là một nén hương thơm mà Viễn Phương dâng lên Bác Hồ kính yêu. Nhà thơ đã chấp bút viết nên một "Viếng lăng Bác" với hết thảy những tình cảm kính trọng, yêu quý và niềm thương nhớ dành cho người cha già của dân tộc. Ta có thể cảm nhận rõ ràng được tấm lòng thành kính và biết ơn vô hạn của nhà thơ cũng như đồng bào miền Nam đối với vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già kính yêu của dân tộc trong  cấc câu thơ sau:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

 

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...

Bác Hồ là người có công rất lớn đối với đất nước và con người Việt Nam. Sự ra đi của Bác để lại niềm tiếc thương chung cho toàn nhân loại. Bao năm trời kể từ lúc Bác ra đi, đồng bào ta vẫn luôn nhớ về Bác với những tình cảm chân thành nhất. Để bày tỏ tình yêu thương với người, nhà thơ Viễn Phương đã sáng tác bài thơ Viếng lăng Bác nhân chuyến ra Hà Nội thăm lăng của Người. Cả bài thơ chứa đựng bao nỗi niềm đau xót, sự xúc cảm chân thành dành cho vị Cha già của dân tộc của một người con nơi phương xa được trở về thăm.

Mang theo lòng tiếc thương vô hạn của cả dân tộc đối với Bác, nhà thơ đang thực hiện cuộc hành hương của mình sau bao năm chờ đợi được trở về bên người cha già kính yêu:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

Nhà thơ đã khéo léo giới thiệu được vị trí không gian quãng đường từ miền Nam xa xôi ra viếng lăng Bác:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Tiếng “con” cất lên thật gần gũi, thân thương. Đó là cách xưng hô rất mật thiết của người dân Nam Bộ, đã bộc lộ sâu sắc lòng ngậm ngùi thương nhớ của nhà thơ của đồng bào miền Nam đối với Bác. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây con mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam đến với Bác nói rằng “Con ở miền Nam” – nơi vừa được giải phóng, vừa giành thắng lợi vẻ vang – đến đây để nói với cha rằng: “Con cảm ơn cha”. Hơn thế nữa, trong câu thơ này, ta còn nhận thấy một sự khác thường. Bác Hồ đã vĩnh viễn đi xa, thế nhưng tác giả không dùng từ “viếng” mà lại dùng từ “thăm”, bởi với nhà thơ Viễn Phương, Bác Hồ vẫn mãi sống trong trái tim, trong nỗi nhớ mỗi người dân Việt Nam. Đây hẳn là lí do mà tác giả sử dụng từ "thăm", một cách nói giảm nói tránh đầy tinh tế. Chuyến thăm từ mảnh đất "đi trước về sau", chịu bao nỗi đau chia cắt dưới gót giày của kẻ xâm lấn. Mang theo cả trái tim miền Nam đang từng ngày mong mỏi, thiết tha hướng về Bác Hồ, mang theo nỗi niềm của một người con dành cho cha.

Trong niềm vui, niềm hân hoan, rạo rực vì được viếng lăng Bác đang dào dạt dâng lên, nhà thơ xúc động ngắm nhìn quang cảnh trước lăng Bác:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp, mưa sa, đứng thẳng hàng.

Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Hiện lên trong sương khói quảng trường Ba Đình lịch sử là hình ảnh hàng tre xanh bát ngát. Hàng loạt từ láy  "xanh xanh", "bát ngát" kết hợp thán từ “Ôi!” đã bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, tha thiết của tác giả khi nhìn thấy hàng tre đĩnh đạc, uy nghiêm không khác gì những anh chiến sĩ trung kiên ngày đêm đứng gác, canh giữ cho giấc ngủ an lành, bình yên của Bác Hồ kính yêu. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Chắc rằng, cũng như mọi người Việt Nam, trong tâm khảm nhà thơ, cây tre là hình ảnh giản dị, thân thuộc, đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Tre  có mặt xung quang trong cuộc sống của người dân, tre tham gia vào cuộc kháng chiến cùng người dân “tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng giữ nước giữ mái nhà tranh giữa đồng lúa chín” (Thép Mới). Tre mang bao phẩm chất của con người Việt Nam: mộc mạc, thanh cao, ngay thẳng bất khuất. Hàng tre ấy cũng như những con người VN ta dù phải trải qua bao “bão táp mưa sa” thì vẫn “đứng thẳng hàng”.  Dáng dấp tre hiên ngang, bất khuất, thách thức cả “bão táp mưa sa” gợi tư thế quật cường, mạnh mẽ của một đất nước nhỏ bé trên bản đồ thế giới. Chính quốc gia ấy đã ghi tạc tên mình trong những trang sử chói lọi, hùng tráng, như một thần thoại oanh liệt. Tre không cao lớn, tre chẳng phải loài cây đáng giá ngàn vàng, nhưng tre mãi vững vàng trước bão giông. Như Bác Hồ ta suốt đời sống giản dị, chẳng khoa trương mà cứ lặng lẽ, kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc.

Có thể thấy rằng, khổ thơ đầu tiên đã để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. bằng những từ ngữ và hình ảnh chọn lọc, lời thơ cho ta nhận ra niềm xúc động của nhà thơ khi được ra lăng viếng Bác. Đồng thời cũng qua đó ta cảm nhận được lòng thành kính và niềm biết ơn vô hạn của Viễn Phương dành cho Bác Hồ kính yêu.

Mạch cảm xúc của Viễn Phương ngày càng xao động khi hoà nhập trong dòng người vào thăm lăng Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...

Viễn Phương mượn hình ảnh thực kết hợp với sử dụng nghệ thuật ẩn dụ sóng đôi để so sánh Bác Hồ tượng trưng như mặt trời soi sáng cả nước Việt:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Ngày ngày, mặt trời - chúa tể của thiên nhiên - thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời rất đỏ, hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ - là mặt trời cách mạng, là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt, mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng, nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Không nhiều lời, chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ, nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất, rực rỡ nhất, chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. Điệp ngữ “ngày ngày” được tác giả khéo léo sử dụng như để thể hiện sự nối tiếp lặp đi lặp lại hằng ngày. Điều đó chính là sự vô tận, là lời khẳng định Bác sẽ còn mãi, sẽ trường tồn bất diệt trong lòng mỗi người dân đất Việt. Lời thơ thật đơn giản nhưng chứa đựng trong đó là cả một tấm lòng. Chúng ta nhận ra trong những câu thơ ấy là tình yêu thương và niềm biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác

Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...

Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. Viến Phương  tiếp tục sáng tạo một hình ảnh ẩn dụ vô cùng đẹp đẽ. Đó là hình ảnh “tràng hoa”. Hình ảnh ấy gợi lên trong ta biết bao nhiêu liên tưởng thú vị. Nó khiến ta nghĩ đến những vòng hoa tươi thắm mà mỗi đoàn viếng thăm đều dâng lên người. Tuy nhiên không chỉ có thế, hình ảnh này còn là ẩn dụ cho những dòng người đang nối nhau vào lăng viếng Bác. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác.   Những cánh hoa được kết lại từ niềm tiếc thương thẫm đẫm vào dòng máu, từ lòng thành kính khắc ghi mãi tên Người vào trái tim. Đó cũng chính là sự biết ơn công lao to lớn của Bác. "Bảy mươi chín mùa xuân" của một đời người, một kiếp sống, Bác đã cống hiến vì toàn dân, đã đem ánh sáng của chân lí, của cách mạng lan toả từ rừng sâu hẻo lánh đến đỉnh đồi xa xâm, từ thị thành phố huyện đến đồng nội xanh rì. Bác vẫn sống như mỗi mùa xuân của đất nước Việt NamNgày ngày… ngày ngày …, thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương, yêu quí, kính trọng đối với Bác.

Có thể nói, khổ thơ này chính là khổ thơ cảm động nhất và thể hiện rõ sự vĩnh hằng và trường tồn của Bác Hồ trong lòng mỗi con dân Việt Nam. Ông đã dùng những từ ngữ trân trọng và tôn kính nhất kết hợp cùng những biện pháp tu từ đặc sắc để ca ngợi và thể sự biết ơn, kính trọng nhất dành cho Bác Hồ, đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn nỗi xúc động nghẹn ngào, lòng thành kính và niềm biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với Bác. Và cũng qua những vần thơ ấy ta nhận ra Bác vẫn còn mãi trong trái tim của mỗi con người, và của cả dân tộc Việt Nam.

"Viếng lăng Bác" ngời sáng trong vườn địa đàng thơ ca nhờ giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết mà lắng đọng nơi hồn người cùng hình ảnh, ngôn ngữ chọn lọc, giản dị, trang trọng và giàu cảm xúc. Xuyên suốt hai khổ thơ là những cảm nhận rất thực và vô cùng tinh tế của Viễn Phương. Cảm xúc ấy khi thì bồi hồi, xúc động, tự hào, khi lại vô cùng biết ơn, thành kính. Hai khổ thơ cũng đã đưa ta về với hình ảnh rực rỡ của vị cha già vĩ đại, kính yêu ngàn đời còn sống mãi theo năm tháng, theo thời gian.

* Liên hệ thực tế ( Lối sống nghĩa tình)

Ân nghĩa, thuỷ chung là một lòng là nét đẹp mang tính truyền thống của đạo lí dân tộc, thể hiện lối ứng xử mang vẻ đẹp nhân văn của con người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Lối sống ân nghĩa thủy chung nhắc nhở ta cần biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những anh hùng vĩ đại đã hi sinh, lấy thân mình, mồ hôi xương máu để bảo vệ nền độc lập cho đất nước, giữ vững bình yên vùng trời Tổ quốc. Cần biết sống vui, sống khoẻ và có ích cho xã hội, phần để thực hiện đúng trách nhiệm, bổn phận của chúng ta, phần vì không hổ thẹn với những người đi trước mang lại cho ta cuộc sống tốt đẹp. Lối sống đó không chỉ được khắc sâu trong tâm hồn mà còn phải được thể hiện bằng hành động cụ thể. Con cháu hiếu thảo với ông bà cha mẹ. Tục cúng lễ giỗ tết với nén hương thơm toả khói trên bàn thờ gia tiên. Con cái chăm học chăm làm, sống tốt đẹp làm vẻ vang cho dòng họ, biết săn sóc ông bà cha mẹ khi già yếu. Ngày 27/7 và ngôi nhà tình nghĩa là sự thể hiện lòng biết ơn của toàn dân đối với thương binh liệt sĩ. Học sinh biết tôn sư trọng đạo... Là con cháu vua Hùng, thuộc dòng dõi Lạc Hồng, ta phải biết tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, phải ý thức quý trọng giữ gìn những giá trị mà quá khứ đã tạo nên bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu, tiếp tục phát triển các thành quả của quá khứ.  Nói như Bác: Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Trong tưong lai, hãy đem tài năng của mình ra xây dựng quê hương đất nước trở nên giàu đẹp hơn. Hãy luôn xây dựng lối sống nghĩa tình để cảm nhận được tình yêu thương trong cuộc sống này.

Dù Bác đã ra đi nhưng Bác sẽ còn sống mãi trong trái tim của Viễn Phương nói riêng, nhân dân Việt Nam ta nói chung. Tỏ lòng thành kính với Bác cũng là động lực giúp mọi người sống và làm việc tốt hơn. Vậy nên, là thế hệ trẻ, chúng ta nên tiếp bước, kế thừa và phát huy những bài học và phẩm chất quý báu mà Bác đã để lại góp phần hoàn thiện bản thân và trở thành người có ích cho đất nước.

* Liên hệ tác phẩm khác  ( Lối sống nghĩa tình trong Ánh trăng)

Mỗi tác phẩm thi ca là một bài tâm sự chia sẻ tâm tư nỗi lòng của tác giả. Ánh trăng của Nguyễn Duy không chỉ thể hiện suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà thơ trước sự đổi thay của đời người và đất nước gia đoạn đó, mà còn là thông điệp đánh thức mỗi người. Đó là lẽ sống ân nghĩa, thủy chung:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

Nghệ thuật ẩn dụ "trăng cứ tròn vành vạnh" và nhân hóa "trăng im phăng phắc" tượng trưng cho một quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên không thể phai mờ và là  người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà hết sức nghiêm khắc. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưnng quá khứ thì luôn tròn đầy, thủy chung và bất diệt. Tấm lòng bao dung, độ lượng mà nghiêm khắc ấy đã nhắc nhở nhà thơ và tất cả chúng ta không bao giờ lãng quên quá khứ. Ánh trăng đã soi rọi vào quá khứ, vào những ngày tháng mà con người vẫn còn gắn bó với trăng để từ đó đánh thức lương tâm con người. Trăng không trách mắng bằng những lời nói mà trăng chỉ im lặng, một cái im lặng đáng sợ hơn cả lời nói. Đó trước hết là một hình ảnh thực bởi chúng ta biết rằng trăng không thể nào nói chuyện. Cái sự im lặng ấy biểu thị cho sự nghiêm khắc của quá khứ. Nhưng nó khiến cho con người giật mình. Cái giật mình nhìn lại thức tỉnh của con người thật đáng quý. Giật mình để nhìn lại chính mình, để cố gắng sống tốt hơn. Cái giật mình của ăn năn tự trách, giật mình để nhắc nhở bản thân không lãng quên quá khứ nghĩa tình. Trăng cảm hóa con người và nhắc nhở con người phải luôn luôn nhớ về quá khứ, trân trọng quá khứ. Thông qua hình ảnh ánh trăng, nhà thơ Nguyễn Duy đã làm một cuộc tư vấn tâm hồn để nhắc nhở con người về lẽ sống nghĩa tình, thủy chung. Nội dung bài thơ là những trải nghiệm cá nhân của chính tác giả nhưng nó gần gũi với đời thường vậy nên nó có sức ngấm rất sâu trong lòng người đọc. Bài thơ gợi nhắc con người về lẽ sống thủy chung, nhắc con người ghi nhớ quá khứ, gắn bó với quá khứ. Có như vậy thì tương lai mới trở nên tươi đẹp.

Viễn Phương và Nguyễn Duy đều đã từng sống, trải qua những năm tháng khó khăn, thiếu thốn, khốc liệt của chiến tranh và được cưu mang, đùm bọc,sẻ chia, … Khi viết Viếng lăng Bác, Ánh trăng hai nhà thơ đã được hưởng cuộc sống hoà bình, ấm no, hiện đại. Hai bài thơ đã gợi nhắc đạo lí về lòng biết ơn, lối sống ân nghĩa, thuỷ chung đối với mỗi người. Dù là lòng kính nhớ, biết ơn Bác hay ân tình với nhân dân, đất nước thì đều có chung một nét đẹp nhân văn – đạo lí uống nước nhớ nguồn.

Ân nghĩa, thủy chung luôn là truyền thống đẹp của dân tộc, truyền thống ấy bao trùm cách sống, cách ứng xử của con người Việt Nam trong mọi quan hệ. Từ mối quan hệ nhân dân với có công với đất nước như Bác Hồ trong bài Viếng lăng Bác đến mối quan hệ với quá khứ, với lịch sử, với nhân dân và đất nước trong bài Ánh trăng. Thông qua những khổ thơ hay và đặc sắc, 2 tác giả đã đặt ra những vấn đề tư tưởng thật đậm chất nhân văn, không chỉ có ý nghĩa nhất thời mà còn ý nghĩa với muôn đời về sau. Và ngay hôm nay, được sống trong yên vui hoà bình, thế hệ trẻ chúng ta cần phải ghi nhớ công ơn trời biển của Bác, truyền thống uống nước nhớ nguồn mà ra sức học tập tốt để góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp như Bác đã từng mong ước.


Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

Cảm nhận đoạn: Chân phải bước tới cha...Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

 

Phải chăng là chốn bình yên luôn yêu thương ta vô điều kiện, luôn đón chào, ôm ấp ta? Em hãy viết bài văn trả lời câu hỏi này bằng cách trình bày cảm nhận về đoạn thơ sau:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

(Nói với con- Y Phương)

Sau đó, liên hệ với một tác phẩm khác hay thực tế cuộc sống để làm nổi bật gia đình là chốn bình yên luôn yêu thương ta vô điều kiện, luôn đón chào, ôm ấp ta.

Bài làm

Có một nơi để nhớ mong, đó là quê hương

Có một nơi để về sau những ngày vội vã, đó là nhà

Có những người để yêu thương, đó là gia đình

Thế giới rộng lớn ngoài kia với biết bao nơi để khám phá và mỗi người trong chúng ta sẽ có một “chốn bình yên” cho riêng mình sau những vội vã mệt mỏi, nhưng tựu chung lại chốn bình yên đó là nơi cất giấu tình yêu thương vô biên, là nơi chứa đựng sự bao dung hết mực, là nơi có người mong ta trở về. Phải chăng là chốn bình yên luôn yêu thương ta vô điều kiện, luôn đón chào, ôm ấp ta chính là gia đình và quê hương? Để trả lời cho câu hỏi đó ta hãy đến với bài thơ “Nói với con” của Y Phương. Bài thơ là một bài rất ý nghĩa, thể hiện tìn yêu thương của cha mẹ dàn cho con cái và vẻ đẹp của sự tự hào về quê hương đất nước. Bài thơ được ông sáng tác để tặng riêng cho con gái mình. Bởi vậy bài thơ chứa đựng niềm hạnh phúc dạt dào của một người lần đầu được làm cha. Không chỉ vậy, bài thơ còn cho thấy ý thức của người cha muốn vun đắp, muốn cho con hiểu rõ cội nguồn của bản thân và luôn tự hào về nơi mình sinh ra. Những tâm sự ấy thật da diết trong những vần thơ sau:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Ra đời năm 1980, bài thơ như là những lời nói xuất phát từ tấm lòng cha, chứa đựng đầy yêu thương và sự ấm áp, thể hiện tình cảm gia đình êm ấm, tình quê hương tha thiết, mang đậm chất dân tộc miền núi trong từng câu chữ. Bài thơ đi từ tình cảm gia đình rồi mới mở rộng và nâng cao thành tình cảm quê hương, đất nước. Từ những kỷ niệm gần gũi, gắn bó nhất với mỗi con người và nâng lên thành lẽ sống chung.

Tác giả đã vẽ lên một khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ắp niềm vui:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Khung cảnh ấy đẹp như vẽ, một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống hạnh phúc trong tình yêu thương. Bằng ý thơ đối ứng hình ảnh đứa trẻ ngây thơ chập chững tập đi, ngọng nghịu tập nói trong vòng tay thương yêu, chăm sóc của cha mẹ hiện lên thật rõ nét. Không khí của một gia đình ấm êm, hạnh phúc được diễn tả bằng cách sử dụng hình ảnh thực và cụ thể. Cha như dang tay che chở từng bước đi lẫm chẫm của con, cha lo lắng sợ con vấp ngã. Điệp ngữ “chân” và “bước tới” vừa gợi ra sự bỡ ngỡ của đứa trẻ với những bước chân chập chững tập đi  vừa thể hiện niềm sung sướng và đầy tự hào của cha khi thấy con đang lớn lên. Những bước chân đầu đời con đã biết hướng về cha mẹ bởi con cảm nhận được trong vòng tay cha mẹ con sẽ được nâng niu và yêu thương hết mực. Tấm lòng của mẹ, của cha là cái đích để đứa con hướng tới. Sự lớn lên của đứa trẻ rất đỗi hồn nhiên như mặt trời không bao giờ mọc từ hướng tây. Tiếng nói, tiếng cười là cái phía hướng đông rạng rỡ. Hình ảnh cụ thể mà rất giàu chất thơ. Từ tăng tiến “một bước”, “hai bước” như nói về quá trình lớn khôn của con, con biết nói biết cười là niềm vui cho gia đình. Điệp từ “tiếng” gợi âm thanh rộn rã, náo nức, vui sướng của cha mẹ. Mỗi bước đi của con trẻ có tiếng nói tiếng cười của cha mẹ. Câu thơ có được cái ấm áp, ríu rít, ngọt ngào, một thứ âm vang mà những người làm mẹ, làm cha ai mà không bồi hồi xao xuyến. Con lớn lên bằng tình yêu thương, trong sự nâng đón, vỗ về mong chờ của cha mẹ. Không khí gia đình đầm ấm thân thương ấy là một hành trang quý báu đối với cuộc đời, tâm hồn con. Là yếu tố đầu tiên hình thành nên những phẩm chất tâm hồn con người. Hai chữ mẹ – cha thật giản dị nhưng cũng  thật lớn lao và thiêng liêng: với mỗi người mẹ người cha là đích đến, là nơi để ta tìm về, là nơi để ta bước tiếp, là chốn bình yên để ta nương tựa sau những giông bão cuộc đời.

Dù tấm lòng cha mẹ có độ bao dung rộng lớn đến đâu, đứa con rất cần nhưng vẫn là chưa đủ. Ở đây có một bầu sữa tinh thần thứ hai, đó là quê hương:

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

Cụm từ “người đồng mình” hay còn gọi là người cùng làng, cùng thôn, cùng bản, nhưng cách gọi ấy nghe sao mà thân thương, gần gũi quá! Từ gọi đáp “ơi” làm cho chúng ta cảm nhận được lời tâm tình, lời dạy bảo nhỏ nhẹ của nhà thơ đối với con mình. Cách gọi của người cha mộc mạc, bình dị nhưng xiết bao ân tình đằm thắm, xiết bao nghĩa tình của người cha dành cho con và cho người đồng mình đồng thời bộc lộ tình yêu, niềm tự hào về quê hương về người đồng mình. Chỉ với câu thơ ngắn gọn nhưng Y Phương đã cho người đọc thấy cuộc sống lao động cần cù, vui tươi của họ, họ đan lờ bằng nan hoa, ken vách nhà bằng những câu hát. “Nan hoa”, “câu hát” đâu chỉ là hình ảnh tả thực mà còn là hình ảnh ẩn dụ, thể hiện cuộc sống tươi trẻ, tinh thần lạc quan vui sống. Nhờ đó mà họ biến cuộc sống lao động thành thơ, đẹp như thơ. Người đồng mình yêu lao động, yêu cái đẹp và biết cách làm cho cuộc sống của mình trở nên vui tươi, vậy nên, trong nhà họ lúc nào cũng vang câu hát. Động từ “đan, cài, ken” giúp bạn đọc phần nào hình dung được những việc cụ thể của con người trên quê hương, còn gợi tính chất gắn bó, hòa quyện, quấn quýt của con người và quê hương xứ sở. Hay phải chăng đó còn là nguồn cội nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Cuộc sống của người đồng mình gần gũi, chan hòa, gắn bó với thiên nhiên. Nghệ thuật nhân hóa “cho hoa”, “cho những tấm lòng”, hình ảnh thật đẹp, thật độc đáo. Hình ảnh “hoa” được nhắc tới vừa là hình ảnh tả thực vừa là hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng cho tâm hồn tươi trẻ phong phú tràn đầy lạc quan. Hình ảnh “con đường” cũng vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Con đường ở đây nối bản gần với bản xa, con đường lên nương, lên rẫy, con đường vào thung lấy nước. Tất cả đều in dấu chân của người đồng mình. Con đường tựa như một nhịp cầu gắn kết những con người quê hương. Tấm lòng cũng được coi là hình ảnh ẩn dụ, chính là tấm lòng của quê hương theo con đường gần, đường xa để đến với quê hương, đất nước mình. Điệp từ “cho” nhắc đi nhắc lại hai lần nhấn mạnh vẻ đẹp giàu có, hào phóng, thơ mộng, giàu yêu thương của thiên nhiên, núi rừng dành cho con và cho người đồng mình. Con thật may mắn và hạnh phúc khi lớn lên trong tình làng nghĩa xóm. Rừng thì chở che, con đường thì mở lối. Thiên nhiên mơ mộng, đầy tình nghĩa đã che chở, nuôi dưỡng con cả về tâm hồn, lối sống. Quê hương đã cho con những gì tốt đẹp nhất, chiếc nôi thứ hai nuôi con khôn lớn. Nhìn con khôn lớn, suy ngẫm về tình nghĩa làng bản quê nhà, nhà thơ đã nghĩ về cuội nguồn hạnh phúc, cha mong con hiểu những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con ,để con yêu cuộc sống hơn. Từ những câu thơ bình dị đó, ta thấy người cha mong con giữ gìn, trân trọng những giá trị của quê hương, gia đình, của dân tộc mình. Đó chính là một nguồn mạch yêu thương, vẫn da diết, tha thiết chảy trong huyết quản và tâm hồn con người.

Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, hình ảnh cô đọng, mộc mạc và vẫn phong phú.Thể thơ tự do phù hợp với tư duy của người miền núi, nhịp điệu thơ linh hoạt, tạo ra sự cộng hưởng với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Với cách nới, cách gieo vần và nhịp điệu nhẹ nhàng như những lời tâm tình, đoạn thơ tuy giản dị nhưng lại có sức ảnh hướng đến người đọc sâu sắc. Mạch cảm xúc tự nhiên tạo ra sự cộng hưởng hài hòa với những cung bậc tình cảm khác nhau trong lời cha truyền thấm sang con. Lời nhắn nhủ ân cần của người cha với con mình cũng là nhắn nhủ mà người cha nào cũng muốn con mình mang theo như một hành trang trong cuộc đời.

* Liên hệ thực tế:( Vai trò của gia đình)

Trong cuộc sống, con người ta luôn có lúc gặp phải những gian lao, trắc trở. Chính trong những năm tháng khó khăn, gian khổ ấy, chúng ta sẽ nhận ra được những giá trị tinh thần vô cùng thiêng liêng và đáng quý từ gia đình. Những giá trị, những kỉ niệm về tình cảm từ những người thân sẽ tạo nên sức mạnh nâng đỡ bước chân ta trong suốt cuộc đời dài.

Gia đình – tiếng gọi thân thương nhưng gói gọn cả thế giới bao la với đầy ắp những yêu thương của cha mẹ. Là nơi dung dưỡng tâm hồn và lưu giữ những khoảnh khắc vui buồn, hạnh phúc. Chính là nơi những người ta yêu thương và yêu thương ta vô bờ bến. Là chứng kiến những thiên thần nhỏ đến khi đứa trẻ ấy lớn khôn từng ngày. Nơi chứa đựng bao băn khoăn, lo lắng của mẹ lo cho con từng miếng ăn giấc ngủ, những lúc con nóng sốt, quấy khóc không ngừng… Nơi, cha dõi theo từng bước chân con trên hành trình lớn khôn với niềm trăn trở mong con nên người. Nơi có cha, có mẹ yêu thương con vô điều kiện, nấu cho con những món ăn khoái khẩu, đắp lại chăn ngay ngắn sau khi con đạp tung ra. Nơi không deadline, không áp lực, không ai trách móc khi con làm gì đó chưa tốt. Nơi con được sống thật với bản thân khi không phải cố nở nụ cười những lúc không vui, giấu nước mắt vào trong khi chia ly tình đầu hay luôn miệng nói “không sao” nhưng cõi lòng vụn vỡ. Nơi con chẳng cần cắm mặt vào smartphone tìm niềm vui trong thế giới ảo vì tiếng cười, niềm hạnh phúc thật sự luôn hiện hữu. Nơi con mỗi khi đau ốm không phải vừa nuốt từng miếng cháo, vừa rơi nước mắt tủi thân vì nhớ gia đình. Nơi con không bao giờ cảm thấy lạc lõng cô đơn trong lãng đãng chiều đông, hay khi gió mùa lạnh buốt tràn về.  Nơi dù ngược xuôi khắp chốn, con vẫn hướng về như chỗ an trú cả đời. Có những lúc giận hờn cha mẹ, nhưng gia đình trong ký ức vẫn luôn là nơi thiêng liêng của riêng con, nơi con được trở thành những công chúa, hoàng tử của cha mẹ, nơi bản ngã của con được bộc lộ rõ nhất, và con có thể làm bất cứ điều gì thế giới cho là “điên rồ” nhưng con không phải sợ thế giới soi xét, dị nghị.Dù có đi đâu, nhà vẫn là mái ấm an yên trong tim mỗi người.

“Con ơi muốn nên thân người

Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.”

Bất kỳ người làm cha làm mẹ nào cũng muốn con mình sau này nên người luôn trở thành những công dân tốt cả. Y Phương cũng muốn con mình tự hào về những điều bình dị nhất để luôn nhìn đời bằng đôi mắt lạc quan. Tiếng thơ "Nói với con"  là lời răn dạy của người cha, mong rằng dẫu mai này con có đi vào biển người tấp nập, dấn thân vào nơi hào nhoáng của đô hội, con cũng phải biết "uống nước nhớ nguồn", biết rằng mình sinh ra là nhờ cái nôi hạnh phúc của gia đình, nhờ những truyền thống tốt đẹp của quê nhà. Cha cũng mong con phải khắc cốt ghi xương hai tiếng "quê hương" vào tâm hồn và trái tim như Xuân Quỳnh từng viết:

"Mỗi người có một quê

Ngày dại thơ để ở

Tuổi thiếu niên để yêu

Và lớn lên để nhớ…"

"Nói với con" đã lẳng lặng trở thành một bài thơ đời. Để rồi có những phút ngã lòng, ta vịn vào thi phẩm để thêm yêu gia đình, để biết tự hào, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của văn hoá dân tộc ta.

* Liên hệ với tác phẩm văn học:( Bếp lửa_Bằng Việt)

Trong cuộc sống, con người ta luôn có lúc gặp phải những gian lao, trắc trở. Chính trong những năm tháng khó khăn, gian khổ ấy, chúng ta sẽ nhận ra được những giá trị tinh thần vô cùng thiêng liêng và đáng quý từ gia đình. Những giá trị, những kỉ niệm về tình cảm từ những người thân sẽ tạo nên sức mạnh nâng đỡ bước chân ta trong suốt cuộc đời dài. Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt đã soi sáng chân lí giản đơn ấy.

Bài thơ có tên là “Bếp lửa” nhưng một điều dễ nhận thấy là hình ảnh đầy sức gợi ấy được gợi cảm hứng từ người bà. Hay nói cách khác, bếp lửa trong kí ức nhà thơ được nhóm lên từ đôi tay của bà: sáng sáng chiều chiều bà nhen bếp lửa thổi gạo, nấu cơm một tay tảo tần nuôi cháu, Nhắc về bà là nhớ về bếp lửa và nhớ về bếp lửa là nhớ về bà. “Bếp lửa” là bài ca về tình bà cháu ấm áp, cảm động. Đặc biệt là qua ba câu thơ:

Rồi sớm, rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa luôn chứa niềm tin dai dẳng

Ta thấy qua những vần thơ giản dị, từng từ, chữ của tác giả-người cháu xa nhà, đã gợi ra sự hi sinh tần tảo của bà. Ba câu thơ như một nốt nhấn, một điệp khúc khó quên trong bản tình ca về bà cháu đầy thiêng liêng mà cao quý. Hình ảnh ngọn lửa tỏa sáng trong câu thơ có sức truyền lan tỏa, có một sự truyền cảm mạnh mẽ. giữa những mất mát đau thương, bà vẫn là người ngày ngày nhóm bếp lửa chất chứa bao nét đẹp ý nghĩa, sự tinh tế, bình dị, đơn sơ và tình yêu thương của bà với cháu. Rồi sớm, rồi chiều bà vẫn nhóm lên ngọn lửa như nhóm trong lên trong người cháu một tình cảm rộng lớn ấp ủ bằng tình thương bao la dạt dào suốt cuộc đời bà dành cho cháu. Bếp lửa của tình thương gia đình, quê hương giờ đây đã trở thành một ngọn lửa mang đậm giá trị biểu tượng. lời thơ thủ thỉ, dịu êm mà sao tiếng lòng của người thi sĩ như có sức mạnh thần kì làm cho người đọc thấy con tim mình như có lửa bùng lên. Một ngọn lửa luôn luôn có sẵn trong lòng bà, luôn ấp ủ, lo toan. Một ngọn lửa chứa niềm tin cháy rực trong lòng cháu mang theo bao cảm xúc không thể nói hết mà phải dùng dấu chấm lửng để lại bao suy tư trong lòng người đọc. Bà đã để lại cho cháu không phải là một giá trị vật chất thông thường mà là một kho tàng quý giá của yêu thương. Hình ảnh người bà giờ đây thật là cao quý, bà hiện thân cho vẻ đẹp thiêng liêng của người giữ lửa, người truyền lửa muôn đời.

 Tình cảm gia đình là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng và quý giá của mỗi người. Mỗi nhà thơ, nhà văn bằng sự khám phá và thể hiện của mình đã đem đến cho văn học những tác phẩm giàu giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục và đánh thức tình cảm tốt đẹp của con người về tình cảm gia đình. “Nói với con”  của Y Phương, “ Bếp lửa” của Bằng Việt đã ngợi ca, tôn vinh tình cảm gia đình, cho thấy được sự hi sinh và những tình cảm cao quý, dạt dào của gia đình đối với mỗi con người. Vẻ đẹp của tình cảm gia đình trong hai tác phẩm như những nét vẽ góp phần hoàn thiện bức chân dung gia đình của mỗi con người. Tình cảm ấy lại được hoà quyện thống nhất, gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương đất nước. Đây cũng là một mạch nguồn tình cảm được lưu chuyển qua dòng chảy truyền thống của thơ văn dân tộc nhưng luôn có những khám phá, phát hiện và cách thể hiện theo những nét riêng - một đặc trưng quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật.

Đọc xong các tác phẩm “Nói với con”  của Y Phương, “Bếp lửa” của Bằng Việt nhiều dư âm vẫn làm ta xao xuyến không muốn gấp trang sách lại. Những lời dạy chân thành của người cha trong "Nói với con hay những xúc cảm dâng trào về sức mạnh to lớn về tình bà cháu trong " Bếp lửa ".Tất cả như dừng lại khiến ta phải ngẫm về những ngày mình làm cho cha mẹ buồn rầu, làm mẹ rơi lệ.Cảm ơn chân thành đến các tác giả vì họ đã cho ta nhận ra vẻ đẹp gần gũi luôn bên cạnh mà ta chưa hề nhận ra.

 

Phải chăng tri thức làm nên giá trị con người?

 

Xã hội loài người ngày càng phát triển, thì vai trò của trí thức lại càng được nâng cao. Nhà văn Francis Bacon từng khẳng định: “Tri thức là sức mạnh”. Câu nói ngắn gọn nhưng đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của tri thức đối với bản thân mỗi người. Vậy phải chăng tri thức đã làm nên giá trị con người”?

 Tri thức là những hiểu biết của con người về mọi lĩnh vực trong đời sống được tích lũy qua quá trình học hỏi, rèn luyện, lao động. Giá trị con người là ý nghĩa của sự tồn tại mỗi con người, là nội lực riêng trong mỗi con người. Đó là yếu tố để mỗi người khẳng định được vị trí trong cuộc đời. Những hiểu biết của con người ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống sẽ giúp con người khẳng định được vị trí của mình trong cuộc đời.

Người có tri thức sẽ biết làm thế nào cho hợp lí với mọi tình huống trong cuộc sống, tự nâng cao khả năng giao tiếp, cải thiện các mối quan hệ. Người có tri thức sẽ bản lĩnh hơn trước những tính huống không mong muốn xảy ra, từ đó bản lĩnh, tự tin tìm cách giải quyết. Người có tri thức biết làm nên giá trị sống, phong cách sống, không ngừng tích lũy tri thức dày thêm để tự phát triển và hoàn thiện chính mình. Chúng ta kính phục khi nghĩ đến Issac Newton, Darwin, Lincoln, Shakespeare, Nobel, Einstein, Bill Gates, Hồ Chí Minh,…và biết bao tên tuổi khác, bằng tri thức đã xây dựng một xã hội loài người văn minh, tiến bộ tột bậc.

Vì sao có thể nói tri thức làm nên giá trị con người? Giá trị con người không phải chỉ được xác định bằng hình thức bên ngoài mà quan trọng hơn là được xem xét từ tính cách, tâm hồn, những ứng xử của chúng ta với người khác và để có được những điều đó thì phải tích lũy bằng sự hiểu biết, tri thức. Chỉ có những tri thức mới giúp chúng ta vượt qua được tất cả những điều trong cuộc sống mà bước tới thành công của chính mình. Tri thức giúp bản thân ngày càng hoàn thiện hơn và làm nên những giá trị tốt đẹp. Vốn tri thức đa diện sẽ nâng tâm hồn ta lên, nhân đạo hóa con người để ta sống có trái tim, biết yêu chuộng cái đẹp, căm ghét cái xấu và hơn thế từ những gì được biết được đọc, ta có thêm năng lực tư duy và khát khao được tìm tòi, khám phá làm tăng thêm chất người và làm phong phú thêm cái tôi cá thể của mỗi người. Tri thức giúp con người khẳng định chính mình, có chỗ đứng trong xã hội, được kính trọng, yêu mến. Nếu một người thiếu tri thức, thiếu trang bị kĩ năng sống cho mình thì khi bước ra đời, họ sẽ bị thua thiệt về mọi mặt, mọi lĩnh vực trong cuộc sống, giá trị của bản thân họ cũng vì thế mà bị hạ thấp hơn so với mọi người.

Tri thức phải gắn liền với thực tiễn, không đồng nhất bằng cấp với việc có tri thức. Tri thức chỉ thực sự làm nên giá trị của con người khi song hành với một nhân cách đẹp. Nhưng có những người biết tích lũy thêm hiểu biết nhưng lại sử dụng nó vào việc hủy diệt, làm hại đồng loại, trục lợi cho bản thân. Tri thức chỉ thật sự tạo nên giá trị tốt đẹp khi được vận dụng để làm những điều có ích cho cộng đồng.

Tri thức tạo nên giá trị con người nhưng có những người nhởn nhơ, bỏ phí thời gian tích lũy tri thức vào những việc vô bổ, để cuộc đời trôi qua hoài phí. Thực tế, vẫn nhiều bạn trẻ chỉ mải mê ăn chơi, đua đòi mà không học hành. Một số bạn thì có lối suy nghĩ rằng không học vẫn có thể thành công. Đây là một cách nghĩ sai lầm. Mọi con đường đi đến thành công đều thông qua học tập, không có học tập không có thành quả.

Muốn có được sức mạnh của tri thức con người cần không ngừng học tập, tích lũy kiến thức và vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống. Học tập ở mọi nơi, mọi lúc và mọi thứ thiết yếu. Biết nuôi dưỡng lý tưởng cao đẹp, những ước mơ lớn lao, vượt khỏi những đam mê thông thường hay những nhỏ nhen ích kỷ, những khó khăn của thực tại đời sống để vươn lên học tập. Hãy nhớ tri thức là sức mạnh đưa mỗi chúng ta ra xa hơn ranh giới của bản thân, làm nên giá trị tốt đẹp cho bản thân mình.

Vậy nên hãy nhớ rằng tri thức là hành trang thiết yếu mà mỗi người cần có trên đường đời. Tri thức mang đến những chân trời mới của cuộc sống. Con người khẳng định được bản thân là nhờ có tri thức.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Sau đó liên hệ thực tế cuộc sống hoặc một tác phẩm khác đề làm nổi bật thái độ cần có của thanh niên đối với đất nước.

 

 “Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ, như chồng

Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông.” (Chế Lan Viên)

 Đó là những câu thơ về một thời kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, một thời gian khổ nhưng cũng hết sức oanh liệt, hào hùng, đáng tự hào với những con người sẵn sàng cống hiến tuổi xuân và sức trẻ. Ta cũng bắt gặp những con người tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ như thế trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ đầy lạc quan, yêu đời, tinh thần đồng đội sâu sắc và đặc biệt là tinh thần chiến đấu quả cảm, kiên cường. ấy là nhân vật Phương Định.

Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”  được sáng tác năm 1970,khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đang ở giai đoạn ác liệt, gian khổ nhất. Tác phẩm nói về 3 cô gái thanh niên xung phong ở tổ trinh sát mặt đường là Phương Định, Nho và chị Thao, với nhiệm vụ chính là phá bom, công việc vô cùng gian nan, vất vả, nhưng ở các cô gái vẫn hiện lên vẻ đẹp của người thanh niên trẻ nhiệt huyết, lạc quan và yêu đời. Tác phẩm ca ngợi những con người đã đóng góp thầm lặng vào cuộc kháng chiến của dân tộc, đồng thời cũng đề cao tinh thần đồng đội, tinh thần yêu nước.

  “Tổ trinh sát mặt đường” gồm có 3 cô thanh niên xung phong: Nho, Phương Định, và chị Thao. Họ ở trong một hang dưới chân cao điểm, ở đó, máy bay giặc Mĩ đánh phá dữ dội. Đường bị đánh “lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn”. Tưởng như sự sống bị hủy diệt: “không có lá xanh” hai bên đường, “thân cây bị tước khô cháy”. Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc: những cây rễ nằm lăn lóc, ngổn ngang những hòn đá to, một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất. Đó là hiện thực đầy mùi chiến tranh, không có màu xanh của sự sống, chỉ thấy thần chết luôn rình rập.

Công việc của họ vô cùng nguy hiểm và gian khổ. Khi có bom nổ thì chạy lên đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ, phá bom. Họ bị bom vùi luôn. Thần chết “lẩn trong ruột những quả bom”. Thần kinh căng như chão. Trong lúc đơn vị thanh niên xung phong thường “ra đường vào lúc mặt trời lặn. Và làm việc có khi suốt đêm” thì tổ trinh sát lại “chạy trên cao điểm cả ban ngày” dưới cái nóng trên 30 độ. Từ cao điểm trở về hang, cô nào cũng chỉ thấy “hai con mắt lấp lánh”, “hàm răng loá lên” khi cười, khuôn mặt thì “lem luốc”. Nhiệm vụ của họ thật quan trọng và đầy hiểm nguy, gian khổ, thể hiện phần nào hiện thực cuộc chiến đầy khắc nghiệt. Và cũng từ đó, ta thấy sáng ngời lên tinh thần yêu nước đầy quả cảm của các cô gái thanh niên xung phong...

Cuộc sống gian khổ giữa chiến trường ác liệt, công việc đầy nguy hiểm và luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng Phương Định vẫn giữ được sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi trẻ, luôn thể hiện tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh, lòng lạc quan và tình đồng đội gắn bó sâu sắc. Cô ngời sáng lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ.

Vẻ đẹp của nhân vật Phương Định được tỏa sáng ở lí tưởng sống cao đẹp và tinh thần dũng cảm, không sợ gian khổ, hi sinh. Rời ghế nhà trường phổ thông, Phương Định cô đã không ngại gian khó, nguy hiểm xung phong ra mặt trận, nghe theo tiếng gọi của con tim, đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc:

 “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Để giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cô ra đi mà không tiếc tuổi thanh xuân, nguyện dâng hiến hết mình cho đất nước:

“Ôi Tổ quốc!Nếu cần, ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…”.

Đối mặt với nguy hiểm, cô và những người đồng đội của mình thật sự là những anh hùng. Vào chiến trường đã được 3 năm, thuộc tổ trinh sát mặt đường, hàng ngày phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần phải phá bom. Phương Định nghĩ về hoàn cảnh sống nơi đây một cách giản dị và cho là có cái thú riêng: “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ…”. Công việc phá bom đầy nguy hiểm và phải luôn đối mặt với thần chết được cô kể với giọng điệu bình thản, pha sự hóm hỉnh: “Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần”. Thật là biết đùa trước gian khó. Đặc biệt, hi sinh mất mát của bản thân cũng được Phương Định coi hết sức nhẹ nhàng: “Tôi bây giờ vẫn còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên Tôi không vào viện quân y”. Nếu không có cái nhìn lạc quan và một tinh thần dũng cảm thì Phương Định không thể có cách nói bình thản như thế. Được sống và chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc, cô coi đó là trách nhiệm, nghĩa vụ và là niềm hạnh phúc của tuổi trẻ.

Cuộc sống nơi chiến trường luôn đối mặt với thử thách, nguy hiểm và cái chết đã tôi luyện ở Phương Định lòng quả cảm, không sợ hi sinh. Tâm lí Phương Định trong một lần phá bom được miêu tả rất cụ thể, tinh tế đến từng cảm giác. Khung cảnh và không khí chưa đầy sự căng thẳng nhưng Phương Định vẫn có nét tâm lí rất con gái, cảm giác: “Có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình” để rồi sự dũng cảm ở cô như được kích thích bởi lòng tự trọng: “Tôi đến gần quả bom,… tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới”. Khai thác chi tiết này, nhà văn muốn ca ngợi tư thế tuyệt đẹp của con người Việt Nam khi ra trận: một cô gái mảnh dẻ, nhỏ bé nhưng không hề run sợ trước bom đạn của kẻ thù. Phương Định đã chiến thắng nỗi sợ hãi của mình. Đến bên quả bom, cận kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người cũng trở nên sắc nhọn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Nguy hiểm lắm, căng thẳng lắm, vậy mà cô vẫn bình tĩnh, thao tác cẩn trọng, tỉ mỉ, thành thạo theo đúng mệnh lệnh chỉ huy của chị Thao. Phương Định thật kiên cường khi đối mặt với những hiểm nguy cô vẫn giữ được sự bình tĩnh trong từng thao tác phá bom, vẫn gan dạ chiến đấu đến bất ngờ, vẫn trẻ trung, nữ tính đến đáng yêu. Tiếp đó, là cái giây phút căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom. Phương Định có nghĩ đến cái chết nhưng là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, còn cái chính vẫn là: “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”. Dù phải hi sinh cô cũng quyết tâm phá bằng được quả bom, cô đã đặt mục đích hoàn thành nhiệm vụ phá bom lên trên cả tuổi xuân, trên cả mạng sống của mình. Đây là một trách nhiệm rất cao trong công việc, là lòng dũng cảm vô song. Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tôi luyện tâm hồn nhạy cảm yếu đuối của cô trở nên bản lĩnh kiên cường, ý chí và lòng quả cảm.Có thể khẳng định rằng: Phương Định và những đồng đội của cô thực sự là những người anh hùng, nhưng là những anh hùng mà không tự biết. Chính điều đó, khiến cho nhân vật Phương Định trở nên đáng mến.

Những tưởng bom đạn, chiến tranh khiến cho tâm hồn, cảm xúc của những thanh niên xung phong trở nên chai sạn, thô ráp. Nhưng Phương Định vẫn hiện lên mang những nét đẹp trẻ trung và đầy nữ tính. Điểm nổi bật và hấp dẫn nhất ở Phương Định chính là vẻ đẹp của một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và mơ mộng. Phương Định là cô gái Hà Thành trẻ trung, xinh đẹp bước vào chiến trường. Cô có một thời học sinh – cái thời áo trắng ngây thơ, hồn nhiên và vô tư sống bên mẹ trong một căn buồm nhỏ ở một đường phố yên tĩnh. Vào chiến trường, sống ở nơi cái chết luôn cận kề nhưng lúc nào Phương Định cũng giữ vẹn nguyên những nét đẹp trong sáng của những cô gái mới lớn. Những hoài niệm của cô về thời học trò thật đáng yêu, luôn sống trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Sau những giây phút căng thẳng ở cao điểm, xong việc là thở phào chạy vào hàng, là sà ngay vào một thế giới khác – thế giới con gái với những mơ mộng: nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ, có thể nghe, có thể nghĩ ngợi lung tung… Phương Định mê hát và thích nhiều bài hát: những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận; thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng; thích Ca-chiu-sa của hồng quân Liên Xô; thích ngồi bó gối mơ màng trước lời bài hát dân ca Ý trữ tình… Thích hát, Phương Định còn bịa ra lời mà hát, ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Rõ ràng, thích hát là nét tâm lí của thời đại – cái thời tiếng hát át tiếng bom, nhưng đây cũng là nét cá tính ở Phương Định hé lộ vẻ đẹp phong phú của tâm hồn. Trong tiếng hát, có ý thức về lý tưởng, có khao khát về quê hương, tình yêu của tuổi trẻ và có cả khát vọng được trở về cuộc sống thanh bình.

Cũng như bao cô gái mới lớn, Phương Định rất nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. Phương Định đẹp với “hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn” và “đôi mắt nâu nâu dài dài hay nheo lại như chói năng, hay có cái nhìn xa xăm”. Biết mình đẹp, cô thích ngắm mình trong gương, có chút kiêu ngầm khi biết mình được các anh pháo thủ và lái xe thăm hỏi. Cô vui và tự hào về điều đó nhưng không hay biểu lộ tình cảm của mình mà thường rỏ ra kín đáo giữa đám đông. Lê Minh Khuê đã rất tinh tế khi phát hiện ra cái nét tâm lí kiêu ngầm ấy ở Phương Định. Đó là cái kiêu ngầm của một cô gái trẻ có ý thức sâu sắc về vẻ đẹp cuộc sống. Chính nét tâm lí rất đời thường, rất con gái này khiến nhân vật Phương Định càng trở nên gần gũi, chân thực và đáng yêu.

Vẻ đẹp tâm hồn Phương Định ngời sáng nhất khi cơn mưa đá bất ngờ ập đến. Chỉ một cơn mưa đá mà bao ngột ngạt, căng thẳng, hiểm nguy của chiến trường tan biến, để nhường chỗ cho niềm vui con trẻ òa nở, cuống cuồng:” Mưa đá! Cha mẹ ơi! Mưa đá!”. Chỉ một trận mưa đá vụt đi qua cũng đánh thức ở Phương Định rất nhiều kỉ niệm và nỗi nhớ về thành phố, quê hương, về gia đình, về tuổi thơ thanh bình của mình. Sau cái say sưa của niềm vui con trẻ là nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Nhớ rất nhiều: người mẹ, cái cửa sổ ngôi nhà, những ngôi sao to trên bầu trời thành phố, cái cây, vòm trời của nhà hát, bà bán kém và đám trẻ háo húc vây quanh; con đường nhựa sau cơn mưa, những ngọn đèn trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong truyện cổ tích nói về xứ sở thần tiên… Tất cả vừa rõ ràng, vừa mờ ảo; vừa đồng hiện, vừa vụt hiện trong tâm trí; vừa gần gũi, vừa xa xôi. Những hòai niệm làm dịu cơn khát, những cơn khát cháy lòng, những hi vọng xa xôi. Tất cả ào đến, xoáy mạnh cũng mãnh liệt, dữ dội như con mưa đá. Tất cả làm thành hành trang tâm hồn của cô thanh niên xung phong, tiếp cho cô sức mạnh, thắp cho cô niềm tin và tỏa sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ Trường Sơn, của những ngôi sao xa xôi.

 Ở Phương Định nét đẹp còn được ngời sáng trong tình đồng đội thắm thiết. Cô luôn yêu thương trìu mến và quan tâm đến đồng đội. Cô lo lắng cho chị Thao và Nho lên cao điểm chưa về đến nỗi “nói như gắt vào máy” khi đại đội trưởng hỏi tình hình. Cô hiểu chị Thao và Nho như biết về những chị em ruột thịt. Đó là chị Thao sợ máu và vắt nhưng khi chiến đấu lại rất dũng cảm. Trong cuộc việc, ai cũng gờm chị bởi sự bình tĩnh, cương quyết, táo bạo. Với Nho, cô em út của tổ trinh sát thì Phương Định rất muốn bế trên tay. “trông nói nhẹ mát như một que kem trắng. Biết bao trìu mến, yêu thương trong cái nhìn ấy. Khi Nho bị thương, cô vỗ về và chăm sóc như một người y tá: “moi đất, bế Nho đặt lên đùi”, “rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than”, “tiêm cho Nho” rồi “pha sữa trong cái ca sắt…”. Đặc biệt, cô dành tình yêu và niềm cảm phục cho tất cả những chiến sĩ mà cô gặp ngày đêm trên con đường ra mặt trận. Với cô “những người đẹp nhất, thông minh, cam đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Tình đồng chí đồng đội của Phương Định thật thiêng liêng, cao cả và đáng quý! Chính điều đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cô để cô hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Xây dựng nhân vật Phương Định, Lê Minh Khuê đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lí khi nhà văn đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Nhờ vậy, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật – tâm lí Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung, nữ tính. Lời kể linh hoạt, cùng câu ngắn dài, nhịp nhanh tạo không khí chiến trường, nhịp kể chậm lại khi hồi tưởng như gợi nhớ kỉ niệm của tuổi thơ êm đềm… Tất cả góp phần tạo nên một nhân vật chính- một Phương Định thật như ở ngoài đời và một Phương Định rất Hà Nội.

 Lê Minh Khuê đầy tinh tế và ý nhị, khi khai thác tâm lý cô gái đôi mươi- Phương Định ở những điều tưởng chừng như quá đơn giản, gần gũi. Trong điều kiện gian khó ấy, cô vẫn giữ được nét nữ tính, đơn thuần của tuổi trẻ. Đó chính là biểu hiện cao hơn cả của sự lạc quan, khi con người không đánh mất chính mình trong cuộc sống gian khó. Cô luôn yêu đời, khao khát hạnh phúc cùng nét thanh xuân chưa bao giờ bị khuất lấp bởi khói đạn. Sau trùng trùng hiểm nguy, khung cảnh khốc liệt của chiến tranh vẫn được làm dịu lại bởi niềm lạc quan, yêu đời điểm xuyết vào từng câu chữ như những đóa hoa nở giữa trời đông giá buốt. Bởi lẽ ấy, người đọc càng được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để vươn tới tương lai tốt đẹp hơn.

 

 

Chiến tranh đã đi qua đã lâu nhưng đọc truyện "Những ngôi sao xa xôi", ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Quê hương có một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người. Mỗi người dân Việt Nam đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của mình. Là người Việt Nam, chúng ta yêu đất nước Việt Nam của chúng ta hơn ai hết, dù đất nước này còn nghèo nàn, thiếu thốn. Thế hệ cha ông đã dám đứng lên cầm sống chiến đấu để mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Bây giờ mỗi thanh niên việt nam cần tự hào với truyền thống cha ông, ý chí tự lực tự cường và ý thức tự tôn dân tộc, phải có ước mơ, khao khát cháy bỏng được góp sức mình đưa Việt Nam tiến lên ngang hàng với các cường quốc năm châu. Thế hệ trẻ chúng ta - chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta phải là những người đi đầu tiên phong trong học tập, học tập một cách có hiệu quả. Biết mở rộng vốn kiến thức của mình bằng việc thu thập các thông tin trên sách báo, ti vi, internet,… Nhanh chóng thu nhận thông tin từ các nước bạn bè để đưa ra các biện pháp giúp đất nước phát triển bằng hoặc hơn các nước bạn, nắm vững tri thức và kịp thời vận dụng các tri thức ấy vào sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Chúng ta cần chuẩn bị hành trang vững chắc và rèn luyện bản lĩnh cho cá nhân để đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của dân tộc. Cần lên án những hành động quay lưng với quê hương và những cá nhân thiếu ý thức trách nhiệm, sống vô tâm, ích kỉ chỉ biết đến bản thân mà làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng. Chúng ta hãy nỗ lực cố gắng từng ngày để có thể cống hiến phần sức lực nhỏ nhoi cho sự phát triển của quê hương, đất nước. Có như vậy thì đất nước ta mới phát triển trong thời kỳ nền kinh tế tri thức này.

Phương Định là hình ảnh của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã mang vào Trường Sơn cả tuổi thanh xuân, cống hiến không tiếc máu xương để giữ cho tuyến đường Trường Sơn không một giờ đứt mạch. Họ thật sự xứng đáng là những con người Việt Nam đáng tự hào nhất “đẹp nhất”:

“Những con người Việt Nam đẹp nhất

Biết căm thù và biết yêu thương.” (Tố Hữu)

Qua nhân vật Phương điịnh , người đọc thêm yêu mến, tự hào, trân trọng hơn quá khứ hào hùng của dân tộc, thấm thía hơn trách nhiệm của bản thân, phải biết tiếp nối và phát huy những lí tưởng sống cao đẹp của thế hệ cha anh, gìn giữ và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp văn minh,...

 

 


Phân tích 2 khổ thơ đầu Sang thu và liên hệ Mùa xuân nho nhỏ

 

Cảm xúc về mùa từ lâu vẫn luôn được con người thể hiện ở nhiều lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và cả trong những áng văn, thi phẩm. Trong dòng cảm xúc chung không ngừng chảy trôi ấy, Hữu Thỉnh đã chọn cho mình khoảnh khắc giao mùa “sang thu” đầy ấn tượng để viết nên tác phẩm cùng tên. Bài thơ “Sang thu” như một khúc nhạc du dương của đất trời trong hơi thở nhẹ nhàng của mùa thu đang đến. Vẻ đẹp mùa thu với chút lưu luyến, bâng khuâng nhưng đầy nhựa sống được tô vẽ qua từng ý thơ nhẹ  nhàng, đời thường nhưng rất đỗi tinh tế trong hai khổ đầu:

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.

 

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.

Mùa thu - mùa sắc vàng lá đổ, mùa nồng nàn hương hoa sữa, mùa của những xúc cảm tuyệt vời. Nhiều người từng ví mùa thu tựa như một cô gái thanh thuần, trong trẻo. Vẻ đẹp ấy thật riêng, không một mùa nào trong năm có thể so bì được. Nhưng có lẽ, ít ai cảm thức được vẻ đẹp còn ngất ngây hơn ở thời khắc giao mùa, khi đất trời chào tạm biệt mùa hạ, chuyển mình qua thu. Nhưng với Sang thu- Hữu Thỉnh như đắm chìm trong hương sắc giao thời. Thi phẩm dường như đã vỗ vào xúc cảm của xúc cảm của độc giả thật nhẹ nhàng.

Thiên nhiên mùa thú nơi miền quê Bắc Bộ được cảm nhận từ những điều vô hình. Bức tranh thiên nhiên đẹp ấy đã được người thi nhân cảm nhận phác họa một cách tinh tế và sinh động, giàu sức biểu cảm qua xúc giác, khứu giác và thị giác. Bước đi của mùa thu được tác giả bắt nhịp bằng những giác quan tinh nhạy của minhf. Những tín hiệu nhẹ nhàng khi đất trời giao mình chuyển mùa trong một không gian nên thơ nhẹ nhàng:

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.

Trong cái chớm se lạnh của cơn gió mùa thu mà nhà thơ cảm nhận bằng xúc giác, khứu giác đã giúp ông cảm nhận được mùi hương đặc trưng của ổi – một thứ quà bình dị của thôn quê: hương ổi. Hương vị ấy đã “phả” ra rồi cứ thế nương dựa vào gió mà lan tỏa khắp cả không gian xung quanh mà trong không gian có cả sự hiện hữu của một tâm hồn rung cảm như Hữu Thỉnh. Hương ổi “phả” vào trong không gian bao la rộng lớn nhưng là một sự phảng phất dịu dàng, từ tốn chứ không hề vội vã, ồ ạt. Cứ như thế mà hương vị ấy lại thấm thật sâu, thật kĩ vào vạn vật và đến một thời điểm nào đó đã khiến con người rung động. Từ “phả” diễn tả dư vị nồng nàn, đậm đà đang lan tỏa trong gió. Chính làn gió se điển hình của tiết trời miền Bắc khi chuyển mùa đã mang hương ổi đi xa hòa quyện với không gian cùng đất trời. “Hương ổi” trong cảm nhận của tác giả là một sự bắt gặp tình cờ không báo trước. Thể hiện điều này, nhà thơ đã khéo léo sử dụng từ “bỗng”. Việc nhà thơ “nhận ra” hương vị diệu kì của loại trái cây đồng nội dường như không có sự chuẩn bị trước, cũng không phải là sự nỗ lực cố gắng để kiếm tìm và phát hiện ra. Có lẽ trong nhà thơ trong khoảnh khắc “nhận ra” ấy là một cảm giác thân quen, gần gũi, ngửi thấy hương ổi mà cứ như là được gặp lại cố nhân.

Cùng với “hương ổi”, “gió se”, cả sương khói mùa thu cũng hòa nhịp vào cuộc vận hành “sang thu”:

 Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.

Màn sương được nhân hóa trở nên có hồn, tinh tế đầy sinh động. Động từ “chùng chình” gợi tả làn sương nhẹ nhàng mỏng manh e ấp như nàng thiếu nữ đôi mươi xao xuyến trước những rung động. Hai tiếng “chùng chình” trong câu thơ trên đã diễn tả được tư thế nấn ná, chần chừ của làn sương khi di chuyển trong không gian của xóm làng. Sương qua ngõ chùng chình – Ngõ ở đây vừa mang ý hiện thực là ngõ nhỏ nơi thôn xóm lại như là ẩn dụ với cửa ngõ của thời gian đang từ từ bước qua ranh giới giữa hạ và thu.Tất cả những hình ảnh của thiên nhiên tạo vật như bắt cầu cho sự xuất hiện của bóng dáng mùa thu. Mùa thu tuy được xác nhận tưởng như mơ hồ với từ “hình như”. Nhưng thật ra, nó cũng đã ngầm khẳng định cho việc thu đã có những bước đi đầu tiên mà không còn nghi ngờ gì nữa. Giờ đây trong mỗi phút giây đã có sự chuyển đổi, thay cho cảm giác nóng nực của mùa hè là sự khoan khoái dễ chịu của ngày thu. Lời reo vui:"Hình như thu đã về"  cũng thì thầm nhỏ nhẹ, bâng khuâng vang lên trong lòng Hữu Thỉnh như bước đi của mùa thu. Bằng tất cả các giác quan: khứu giác, xúc giác và thị giác, nhà thơ cảm nhận những nét đặc trưng của mùa thu đều hiện diện. Có “hương ổi”, “gió se” và “sương”. Mùa thu đã về trên quê hương. Thu đến nhẹ nhàng quá, mơ hồ quá.

Thu sang với những hình ảnh quen thuộc tiếp tục được nhà thơ phát hiện trong những dòng thơ tiếp theo. Nếu như ở khổ đầu không gian bị bó hẹp, thì đến đây không gian đã rộng mở hơn, từ tầm cao cũng như tầm xa:

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Các hình ảnh của thiên nhiên trong thời điểm này là dấu hiệu khó có thể chối bỏ nó thuộc sở hữu của mùa thu.Các từ láy “dềnh dàng” “vội vã” đã phần nào thể hiện sinh động nhịp thở của đất trời khi sang thu. Mùa thu đến cũng là lúc mùa lũ đã thôi làm khó làm dễ cuộc sống của muôn người, muôn vật. Vậy nên dòng sông trong ở thời điểm này cũng trở nên hiền hòa, dễ chịu mà “dềnh dàng” trong nhịp chảy của chính mình. Dòng sông cũng dùng dằng và ngập ngừng níu kéo nhịp thở của mùa hạ. Ngược lại với sự dềnh dàng từ từ của dòng sông lại là sự vội vã của những cánh chim trời. Hẳn là đàn chim đã bắt đầu cảm nhận được chút se lạnh của tiết trời. Phải chăng để chuẩn bị cho những ngày đông sắp tới mà trong mùa thu bản lề này, “chim bắt đầu vội vã” để làm tổ và dự trữ thức ăn. Tất cả những sự hiện hữu của thiên nhiên ở thời điểm này đã khẳng định cho sự xuất hiện của khung cảnh mùa thu. Nghệ thuật đăng đối vô cùng điêu luyện của tác giả đã giúp cho hình ảnh thơ trở nên giàu chất tạo hình, đẹp hơn và thơ mộng hơn.

Thế nhưng, khi sắc thu, hương thu và cảnh thu đang làm chủ vũ trụ thì đất trời dường như vẫn còn vấn vương mùa hạ mến thương để dành chỗ cho “đám mây mùa hạ”. Ấy thế mà, dù có vấn vương đến ra sao, tiếc nuối đến nhường nào, mây hạ vẫn không thể níu kéo mùa hạ mãi hoài nên vì vậy, nó đành “vắt nửa mình sang thu”. Trong cái “vắt mình” ấy có thoáng tiếc nuối, buồn bã nhưng cũng chứa đựng sự phấn khởi, hân hoan của một tâm thế đón chào cái mới mẻ, bình yên. Hành động được nhân hóa này mang ý diễn tả sự vận động của thời gian. Không gian thơ cũng như trở nên rộng mở hơn, bao la hơn với hình ảnh đầy chất tạo hình này. Phút giao mùa thật nhẹ nhàng biết bao!

Không chỉ đến khổ thơ này, tác giả mới sử dụng những từ ngữ ẩn chứa tâm ý của con người như “dềnh dàng”, “chùng chình”, “vắt mình”. Mà ngay từ khổ thơ đầu tiên qua các từ ngữ “chùng chình”, “phả”, nhà thơ như cũng muốn thể hiện bóng dáng của con người trong hoàn cảnh tạo vật thay đổi trạng thái, bước vào thời điểm giao mùa. Có vẻ như, cùng với thiên nhiên, tâm trạng con người cũng không nằm ngoài sự vận động về trạng thái hiện hữu. Cũng vì thế mà theo dòng cảm xúc hòa cùng thiên nhiên giao mùa.

 Với nhiều hình ảnh đẹp, tinh tế và giàu sức tạo hình, cảnh vật như trở nên vừa hư vừa thực, rất nên thơ và giàu sức tưởng tượng độc đáo. Ngôn ngữ dung dị, đầy trong sáng và giàu sức biểu đạt đã diễn tả sinh động sự biến chuyển của đất trời khi sang thu. Nhà thơ Hữu Thỉnh hẳn phải là người có tâm hồn tinh tế cùng với tình yêu tha thiết với thiên nhiên và đất nước mới có thể sáng tạo nên những vần thơ đặc sắc này. Ngòi bút tài năng này đã khiến chúng ta không thể không cảm phục.

Hữu Thỉnh  mang đến bức tranh thiên nhiên cái dân dã, mộc mạc, đẩy rung cảm và thân quen của một tầm hổn nhạy cảm, một trái tim tha thiết yêu thiên nhiên thì Thanh Hải cho ta cảm nhận cái rộn ràng, say mê trong niềm cảm hứng bất tận với cảnh sắc quê hương:

Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng.

Mùa xuân – mùa khởi đầu cho một năm mới trong vũ trụ tuần hoàn. Trong bức tranh Mùa xuân nho nhỏ, nhà thơ Thanh Hải đã mang đến cho  mọi người một cảm nhận về bức tranh xuân với đầy đủ sắc, thanh tươi mới và tràn đầy hứng khởi. Là dòng sông trải rộng như tấm gương khổng lồ phản chiếu sắc xanh từ bầu trời cao rộng, là màu tím của lục bình đang nhẹ nhàng trôi trên dòng nước, đâu đó là sắc xanh non mới trổ của cành lộc trên lưng người chiến sĩ ra trận hay những nương mạ đang bừng tỉnh vươn cao những trồi lá. Một bức tranh với những gam màu sáng, làm sống dậy một không khí vui tươi trong những ngày đất nước vào xuân. Trong không gian cao rộng, thoáng đãng ấy là tiếng chim báo hiệu xuân về, một thanh âm trong trẻo, vang rộn khắp đất trời. Và trong khoảnh khắc tuyệt đẹp ấy, tác đã đã hòa mình cùng thiên nhiên, đưa bàn tay để đón lấy “giọt long lanh” của đất trời. Đó có thể là giọt sương lấp lánh sớm mai hay giọt nắng xuân khẽ rơi bên thầm, nhưng theo mạch cảm xúc bài thơ có thể hiểu là giọt âm thanh đổ hồi của con chim chiền chiện. Hình ảnh có tính chất tượng trưng “tôi đưa tay tôi hứng” là thái độ yêu thương, trân trọng của nhà thơ trước vả đẹp của đất trời. Nghệ thuật ví ngầm, chuyển đổi cảm giác quả đã đạt tới mức tinh tế đáng khâm phục. Chắc hẳn trong lòng thi sĩ đang dạt dào tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu cuộc đời. Có thể nói, bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và tràn đầy sức sống.

Với cách biểu đạt nhẹ nhàng, tinh tế hai bài thơ đã thể hiện cái đẹp nồng thắn, mê say của cảnh sắc thiện nhiên đất trời. Mỗi nhà thơ có cảm nhận riêng về cảnh sắc thiên nhiên, những chiêm nghiệm, những suy nghĩ về cuộc đời, về con người, tình người trong cuộc sống nhưng thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ đầy xúc động với hình ảnh thiên nhiên gợi lên thật đẹp. Ở đó, thiên nhiên vừa tươi đẹp, tràn trào sức sống vừa chứa đựng tâm tư, suy nghiệm của con người về cuộc đời , về lẽ sống. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng luôn tìm kiếm một tiếng nói chung với thiên nhiên để tìm kiếm một sự hợp nhất viên mãn nhất. Đó là niềm vui, là hạnh phúc, là lối sống đẹp mà con người luôn hướng tới. Cùng với một tầm hổn nhạy cảm, một trái tim tha thiết yêu thiên nhiên trải ra trên từng nét chữ, Thanh Hải và Hữu Thỉnh đã tặng cho người đọc cái rộn ràng của sắc xuân cùng với một chút lắng đọng thật êm khi thu đến. Dẫu hai ngòi bút nghệ thuật khắc họa hai đường nét đặc sắc khác nhau nhưng đâu đó ta vẫn thấy ngân vang lên yêu thiên nhiên nồng nàn say đắm, tầm hổn thi sĩ luôn lạc quan và say sưa trong niềm cảm hứng bất tận với cảnh sắc quê hương.

Hai bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Sang thu cùng với hai hồn thơ – Thanh Hải, Hữu Thỉnh – để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc những cảm xúc sâu lắng, khó phai mờ và vẫn sẽ tiếp tục trường tồn cùng với những bước đi lên của đất nước, gợi nhắc cho những thế hệ trẻ tình yêu quê hương đất nước, niềm khát khao được sống, được cống hiến cho đất nước, cho dù đó là những cống hiến giản dị, nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa.