Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

Phân tích đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích



Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày. (Tố Hữu – Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Phải! Tiếng thơ “ai động đất trời” ấy chính là một nỗi sầu, một nỗi đau không bao giờ nhạt phai theo năm tháng của dòng sông thời gian đều đặn chảy. Nhắc đến Truyện Kiều – kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du – cũng là nhắc đến “tiếng thương”, tiếng kêu không chỉ cho “phận đàn bà” mà còn cho mọi kiếp bất hạnh, không phải cho một đời mà cho đến “nghìn năm sau” và cho “muôn đời”. Và khi đọc trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, những độc giả không thể ngăn được dòng lệ trước bi kịch hết sức xót xa của cuộc đời Kiều.
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là dài 22 câu để hiện tâm trạng của nhân vật trong một hoàn cảnh đặc biệt. Khi đưa Kiều ra ở riêng tại lầu Ngưng Bích, Tú Bà chỉ muốn giam lỏng nàng để rồi sẽ thực hiện những âm mưu khác thâm độc hơn. Có những câu thơ rất hay vịnh về nàng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.
Một mình đối diện với mình
Mênh mông trăng gió vô tình thoảng qua
Mong manh như một nhành hoa
Ầm ầm tiếng sóng biết là về đâu?
Chưa đi đến thuở bạc đầu
Mà sao như đã nhuốm màu hư vô?
Đoạn trích chính là những dòng viết thể hiện tâm tư, nỗi niềm của nàng Kiều trong những ngày tháng ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" dựng lên cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều một mình bơ vơ nơi xứ người, đồng thời qua đoạn trích, người đọc thấy được bút pháp "tả cảnh ngụ tình" độc đáo, đạt tới trình độ điêu luyện bậc thầy của thiên tài văn học Nguyễn Du.
Nguyễn Du đã tái hiện trước mắt người đọc sự mênh mông của cảnh trí và tâm trạng cô đơn của nhân vật:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Ngay câu thơ mở đầu: "Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng thương của Kiều. Hai từ “khóa xuân” là sự tiếp tục ý của câu thơ trước “Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non”. Chính hai chữ này đã cho thấy tâm địa của Tú Bà trong việc để Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là giam lỏng nàng. Vậy là tuổi thanh xuân của nàng Kiều bị giam hãm, khóa kín trong cấm cung và không được giao tiếp với bên ngoài. Vì thế, lầu Ngưng Bích như là nhà tù giam lỏng cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa mà nàng Kiều phải chịu đựng. Kiều phải trải qua những ngày tháng sống ở lầu Ngưng Bích với một nỗi cô đơn, trơ trọi vì từ nơi ở nhìn ra là một cảnh trí bao la, mênh mông đến vô cùng.
Chính cái lầu Ngưng Bích xuất hiện chơi vơi giữa không gian mênh mang trời nước cũng đang giam giữ một thân phận cô đơn, trơ trọi không tìm đâu được một người nào có thể bầu bạn, sẻ chia. Nguyễn Du đã đặt Kiều trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cô đơn, trơ trọi giữa một không gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát". Đứng trên lầu mà ngước mắt lên trời cao, Kiều chỉ thấy "non xa" và "tấm trăng gần". Nhìn xuống mặt đất chỉ thấy khoảng không trống vắng, xa xa là những con sóng lượn, những bãi cát dài phẳng lặng nối tiếp nhau, dưới ánh nắng của buổi chiều tà, bãi cát như trở nên lấp lánh giống như những bụi hồng. Cảnh thật đẹp, thơ mộng, lãng mạn nhưng đượm buồn. Các hình ảnh mang tính ước lệ như “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” xuất hiện trong đoạn thơ dường như cũng góp sức để làm cho không gian trở nên mênh mông hơn, rợn ngợp hơn, qua đó cũng góp phần diễn tả nỗi cô đơn, sự bơ vơ của người con gái một thân một mình trong ngôi lầu vắng lặng.Bởi xung quanh Kiều, không hề có một chút bóng dáng sự sống của con người. Vì thế, từ “xa trông” như miêu tả cái nhìn xa xăm của Kiều, nàng đang cố gắng kiếm tìm một chút bóng dáng, sự sống xung quanh. Nhưng tuyệt nhiên chỉ là một không gian vắng lặng, tĩnh tại, không có chút động nhỏ bé nào đó xung quanh mình. Ẩn sau ánh mắt nhìn "xa trông" như đang trông mong, ngóng chờ ấy là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng trước không gian trống trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên thất vọng, cô đơn hơn mà thôi. Không chỉ được thể hiện ở mặt không gian mà bức tranh thiên nhiên còn được khắc họa trên cả phương diện thời gian.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
   Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và duyên phận của mình. Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hổ là vì bị Mã Giám Sinh lừa vào lầu xanh, còn nàng cảm thấy tủi thẹn là vì cảm thấy không còn xứng đáng với tình cảm mà Kim Trọng mong chờ. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự cô đơn, đơn điệu, nhàm chán khi mà ở đó Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình, sớm thì làm bạn với mây, tối thì lại chỉ biết trò chuyện với bóng đèn. Kiều thực sự đã rơi vào hoàn cảnh cô đơn đến mức như tuyệt đối. Vì thế tâm trạng của Kiều mới chia đôi thành hai ngả: “nửa tình – nửa cảnh như chia tấm lòng”. Cảnh có đẹp đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nào khỏa lấp đi tâm trạng “bẽ bàng” của nàng.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với những từ ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm, Nguyễn Du đã phác họa được khung cảnh lầu Ngưng Bích rất rộng lớn, mênh mông và tuyệt nhiên không có sự sống của con người. Quang cảnh hiện lên một cách đa chiều; theo chiều cao, chiều xa và chiều rộng dưới tầm mắt nhỏ bé của Thúy Kiều đã nói lên cụ thể tình cảnh của nàng: cô độc và không một bóng người.
Ngồi một mình ở nơi vắng lặng và đối diện với một không gian mênh mông, bao la như thế, có lẽ con người dễ nhớ về những điều thân thuộc như là người thân, gia đình, Kiều cũng không ngoại lệ. Hiện hữu trong tâm trí của Kiều lúc này, trước hết là hình ảnh của Kim Trọng. Nàng đau đáu vì có thể chàng Kim vẫn ngày ngày trông đợi tin nàng:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tinh sương luống những rày trông mai chờ.
Không chỉ vậy, Kiều còn bộc lộ tấm lòng son sắt thủy chung từ tận đáy lòng của mình:
“Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Khi để cho Thúy Kiều nhớ đến Kim Trọng trước nỗi nhớ về cha mẹ, Nguyễn Du đã cho thấy sự kế thừa đầy sáng tạo với cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện”. Trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả đã để Kiều nhớ về cha mẹ trước và Nguyễn Du đã thay đổi một cách sáng tạo. Nói sáng tạo là vì dù sao đi nữa chữ hiếu với cha mẹ, nàng phần nào đã thể hiện thông qua quyết định bán mình để đổi lấy sự bình yên cho gia đình…Còn với Kim Trọng, nàng vẫn chưa một lần nói lời tạ từ nên Kiều vô cùng đau xót về điều đó. Không chỉ vậy, khi để cho Kiều hướng nỗi nhớ về Kim Trọng, dường như nhà thơ như muốn thể hiện tâm tư trĩu nặng của nàng Kiều khi đã không giữ trọn lời thề về nghĩa tình trăm năm vàng đá cùng chàng Kim.
Nhớ đến Kim Trọng, nàng dùng từ “tưởng”. “Tưởng” gợi một nỗi nhớ da diết, luôn có hình bóng sự vật mình nhung nhớ trong tâm thức. Từ “tưởng” cho thấy tình yêu tha thiết của Thúy Kiều đối với chàng Kim, đến mức hình bóng của chàng luôn có trong nàng. Có lẽ vì mối tình ấy quá đẹp: “dưới nguyệt chén đồng”. Trong quan niệm của người xưa, lời thề nguyền trước trời đất là điều thiêng liêng và cao cả vô cùng. Kiều nhớ về “chén đồng” tức cũng đang thể hiện sự dằn vặt vì không thể cùng người thương thực hiện được lời thề ước ngày xưa. Nàng nhớ về lời hẹn ước cũng là cách mà Kiều bộc lộ sự đau đớn cho cảnh ngộ ngang trái của mình đã khiến nàng phải đưa ra quyết định khó khăn đến vậy. Nhớ đến Kim Trọng, nàng còn thấy xấu hổ và tự trách mình. Nàng nghĩ rằng chàng Kim không biết nàng gặp nạn, còn đang “rày trông mai chờ” tin nàng bên một “góc bể bơ vơ” nào đó. Nàng tự day dứt vì đã khiến người yêu trông mong mình một cách vô ích như vậy chăng? Nàng rât hổ thẹn khi giờ đây phải ở chốn “lầu xanh”, làm sao có thể hẹn ước trăm năm, chung thủy son sắt với chàng Kim “tài mạo tót vào”? Kiều chỉ có thể gửi đến chàng Kim lời tâm sự của mình từ phương xa, rằng tấm lòng nhớ thương Kim Trọng nàng vẫn không lúc nào nguôi quên. Nàng đã tự bạch qua câu hỏi tu từ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Câu thơ như một lời khẳng định về tấm lòng son sắt, thủy chung của Kiều đối với Kim Trọng dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm lòng son ấy mãi vẹn nguyên. Ngoài cách hiểu đó, câu thơ cũng có thể nói lên sự ngậm ngùi của Kiều muốn bày tỏ cùng Kim Trọng về việc Trọng có biết nàng đau khổ đến nhường nào vì biết bao giờ tấm lòng son bị vì dập, hoen ố của Kiều mới có thể được gột rửa. Kiều hiện lên là một người rất tình nghĩa và hiểu rõ nhân nghĩa.
Sau nỗi nhớ về người yêu, Kiều nghĩ đến song thân của mình:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Kiều quả là người con có hiếu khi quyết định hi sinh bản thân, chấp nhận bán mình để lấy tiền cứu gia đình. Khi thể hiện nỗi nhớ về cha mẹ, Kiều không hề nói lên sự oán trách hay thở than về những bất hạnh, đau khổ của bản thân mà chỉ cảm thấy ân hận vì nàng không thể làm tròn đạo hiếu, không thể chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ mỗi ngày. Tác giả lại sử dụng tính từ “Xót”. Xót nghĩa là thương, thương đến mức xót xa trong lòng. Không xót xa sao được khi một đứa con hiếu thảo như Kiều lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ đang tựa cửa ngóng chờ con trở về, còn con thì vẫn bóng chim tăm cá, không thấy đâu. Nàng còn lo lắng cho cha mẹ khi mà đã tuổi cao sức yếu không biết có ai chăm sóc cho không, hai em có làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của phận làm con hay không.  Hình ảnh ẩn dụ “cách mấy nắng mưa” tượng trưng cho quãng thời gian dài mà nàng đã xa cha mẹ, nhấn mạnh sự thương nhớ và lo lắng của nàng. Nỗi nhớ và tình cảm của Thúy Kiều dành cho cha mẹ không hề diễn tả chung chung mà đều được cụ thể bằng những hình ảnh gợi sự xót xa đến vô cùng. Nếu như hai câu thơ “Xót người tựa cửa…”-“Quạt nồng ấp lạnh” cho thấy nỗi đau xót, lo âu vì không biết mai này ai sẽ là người thay Kiều chăm lo cha mẹ có sự đủ đầy về vật chất thì hai câu thơ sau “Sân Lai…”-“Có khi…” lại bộc lộ nỗi niềm của Kiều khi nghĩ về niềm vui tinh thần liệu có ai thay Kiều đem lại cho mẹ cha. Kiều đã nhận hết những thiệt thòi về mình nhưng lại luôn cảm thấy sự hi sinh của mình chẳng hề thấm tháp gì với công ơn “chín chữ cao sâu” của cha mẹ. Nàng hiện lên là người con rất đỗi hiếu thảo và thương yêu cha mẹ.
Những suy nghĩ của Kiều giúp ta cảm nhận được biết bao vẻ đẹp đáng quý nơi người con gái ấy. Trong cảnh ngộ bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng được dành sự cảm thương thế nhưng nàng đã không màng tới tình cảnh ngang trái của bản thân để nhớ về Kim Trọng và nghĩ về mẹ cha. Kiều không chỉ là một người con gái thủy chung nghĩa tình trong tình yêu mà còn là một người con có tấm lòng hiếu thảo đáng quý vô cùng. Nguyễn Du đã thành công rực rỡ trong việc lột tả vẻ đẹp tâm hồn. Quả thật đã thành công lớn!
Cả đoạn trích là sự trải dài của tâm trạng nàng Kiều, đến những câu thơ cuối cùng, tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều lại được bộc lộ thật ấn tượng qua những biểu hiện của cảnh vật:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Dường như mối một biểu hiện của cảnh vật đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều. Tâm trạng của nàng là một nỗi buồn bao trùm. Vì buồn nên trông, mà càng trông thì Kiều lại càng buồn. Điệp ngữ “Buồn trông” bốn lần xuất hiện làm tăng sự buồn bã của nàng.Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng tâm tư. Đó là tâm trạng chua xót, ngậm ngùi của nàng khi dự cảm về những dông bão, trắc trở ở tương lai phía trước.
Ở lần đầu, nàng trông thấy:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.”
Không gian chiều hôm gợi sự buồn bã, im ắng, lẻ loi. Cảnh cửa bể đã đến lúc “chiều hôm” mà những con thuyền vẫn còn lênh đênh trên mênh mông sông nước gợi nên thân phận trôi dạt của nhân vật. Như một câu ca dao khác cũng có cảnh này “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”, quả là cảnh làm cho lòng người buồn đi. Cảnh đã buồn, đã sầu thảm, lại xuất hiện cánh buồm “thấp thoáng”, mờ mờ ảo ảo, hư hư thực thực, càng làm tăng thêm sự cô độc của Kiều. Như Bà huyện Thanh Quan đã từng viết “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà”: Trong một không gian hoang vu, bỗng có người và sự vật xuất hiện nhưng chỉ lèo tèo, không rõ mặt thì chỉ càng làm tăng thêm vẻ hoang vu. Ở Thúy Kiều cũng vậy, “cánh buồm” “thấp thoáng” làm nàng thêm cô đơn, buồn tủi.
Sau “cánh buồm”, nàng còn bắt gặp:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
Kiều hướng ánh nhìn của mình về đóa hoa trôi man mác không rõ sẽ dạt về chốn nào thì dường như cũng là lúc nhân vật nhìn về cuộc đời của mình với sự phiêu bạc, không định hướng tương lai. Nàng đang lo lắng về tương lai của chính mình, không biết rồi sẽ trôi dạt đến nơi nao. Có lẽ nàng cũng đã dự cảm về số phận long đong, bạc mệnh của mình. Bởi vì hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi man mác” chính là tượng trưng cho cuộc hành trình phập phồng chông chênh ấy. Một bông hoa nhỏ bé giữa một biển nước mênh mông, thật khó mà đương đầu cho được. Số phận của Kiều phải chăng chính là câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn/ Bảy nổi ba chìm với nước non”. Thật bi thương!
Tiếp theo, nàng nhìn về “nội cỏ”:
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”
Trông về phía cỏ cây, Kiều chỉ thấy hiện lên trong mắt màu rầu rầu buồn đến thê thiết, ngọn cỏ kia vẫn xanh nhưng sao màu xanh ấy lại không khiến nàng phấn chấn mà chỉ đem lại sự ủ rũ, héo úa. Nổi bật lên trên hai câu thơ là một nỗi buồn vô vọng. Lòng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn; nỗi buồn của Kiều như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng. Bằng phép tả cảnh ngụ tình: “nội cỏ rầu rầu”; tác giả đã vẽ nên một nỗi buồn rười rượi. Và vì nàng còn buồn hơn thế nữa nên “chân mây mặt đất” với nàng chỉ là một màu “xanh xanh” đơn điệu. Trong văn học từ xưa tới nay, màu sắc xanh thường khiến chúng ta nghĩ tới màu của sự sống, của sự sinh sôi bất diệt. Nhưng từ “xanh xanh” lại xuất hiện trong câu thơ của Nguyễn Du nên màu sắc ấy biểu trưng cho sự nhạt nhòa, sự chán nản, vô vọng của Kiều trước một khung cảnh thiếu vắng sự sống, cô đơn, và tẻ nhạt. Thiên nhiên ấy gợi ở Kiều nỗi chán ngán, vô vọng, tái tê về cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh không biết kéo dài đến tận bao giờ. Thật là “cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên.” (Chế Lan Viên)
Cuối cùng, nàng chỉ còn thấy sóng gió:
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Kiều nghe thấy vọng lại thanh âm của tiếng sóng ầm ầm. Tiếng sóng như lời đe dọa bao quanh người con gái nhỏ bé như báo trước một tai họa sắp sửa ập đến cuộc đời nàng. Âm thanh “ầm ầm” của tiếng sóng nghe thật kinh hoàng, dữ dội. Đã vậy lại còn “kêu quanh ghế ngồi”, làm sao không khiếp sợ cho được? Nỗi sợ ấy phải chăng là nỗi sợ bùng cháy trong Thúy Kiều? Quả thật là vậy. Trước bao lo lắng, trắc trở về người yêu, gia đình và chính bản thân, nàng đã thực sự tỏ ra sợ hãi. Âm thanh “ầm ầm” vây quanh nàng như nỗi sợ dâng lên kề đầu ngập cổ nàng. Nàng đang run sợ, rối bời vô cùng. Câu thơ kết đoạn là sự hòa tấu sóng biển – sóng đời, không chỉ vang lên tiếng gõ cửa của định mệnh mà còn rung chuyển tiếng gầm gào của hiểm họa muốn hất tung người con gái đơn côi, yếu đuối trên điểm tựa chiếc ghế đời mong manh. Bằng cách khắc họa cảnh vật từ hư đến thực, âm thanh từ tĩnh đến động, đoạn thơ đã cho thấy nỗi buồn lo và sợ hãi như tầng tầng lớp lớp sóng gió đang dâng ngập lòng Kiều.Có thể khẳng định rằng: Đây là một cơn bão táp nội tâm!
Khung cảnh lầu Ngưng Bích khi được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều đều nhuốm sự buồn thương đến kinh sợ từ cảnh vật, đến sắc màu và cả âm thanh. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc sắc về cả nghệ thuật lẫn nội dung. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp từ ngữ đặc sắc và điển tích hòa hợp, Nguyễn Du đã vẽ nên tình cảnh, nỗi nhớ và tâm trạng của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Và đặc biệt là đã bộc lộ những nét đẹp cao quý về tấm lòng hiếu thảo và sự thủy chung trong tình yêu ở nàng.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã cho thấy một bức tranh thiên nhiên liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng – đó là bức tranh tâm cảnh nhuốm màu u buồn, đau đớn. Mỗi nét tưởng tượng trong ngòi bút của tác giả lại phản ánh một mức độ khác nhau trong tâm trạng của nàng Kiều. Đoạn trích đã giúp ta hiểu hơn về tâm hồn của người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh. Kiều ở lầu Ngưng Bích còn giúp người đọc cảm nhận được giá trị nhân văn sâu sắc đồng thời thể hiện tấm lòng nhân hậu, cảm thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.


ĐẠO LÍ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN TRONG BÀI ÁNH TRĂNG CỦA NGUYỄN DUY



Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.
Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm - Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ / Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ “ (Hồ Chí Minh )… Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?
Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.
Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ - lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ”
Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác: “Việc quân, việc nước bàn xong/ Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.” (Đối nguyệt); cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới: “Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo.” (Đồng chí – Chính Hữu). Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự.
Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ - hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.
Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…
Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ - nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”. Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.  
Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.
Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
“Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ “cố hương” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng. Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương… Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.
Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.”      
Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu. Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn dầy bất diệt.
Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Còn nhớ năm xưa, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Genève được kí kết, trong buổi chia tay đầy lưu luyến giữa cán bộ về xuôi với đồng bào miền núi nhà thơ Tố Hữu cũng đã tự nhắc nhở mình, khi về với cuộc sống bình yên ở miền xuôi cũng không bao giờ được quên những năm tháng gắn bó cùng đồng bào nơi đây, được đồng bào yêu thương “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, cùng kề vai sát cánh chống giặc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.” (Việt Bắc – Tố Hữu)
Và Ánh trăng cũng là một lời tự nhắc nhở như thế. Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị ngưòi đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.
Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.
Tóm lại, bài thơ Ánh trăng với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.
Thạc sỹ Nguyễn Huyền Nga (Giáo viên Trường Quốc tế Á Châu)

Phân tích bài thơ Ánh trăng


phân tích bài thơ Ánh trăng

Chiến tranh đã qua đi, con người bắt đầu sống hòa nhập và xây dựng cuộc sống mới. Có thể nói bấy nhiêu năm chiến tranh đi qua đã đủ để nhìn nhận và đánh giá trọn vẹn sự thiêng liêng của hai tiếng “hòa bình”. Thế nhưng ở cuộc sống yên bình thì vẫn diễn ra những cuộc chiến âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt bên trong mỗi con người. Cuộc chiến không có súng đạn, không có máu đỏ ấy nhưng lại trải dài trải dài… Đó là cuộc chiến của con người để loại bỏ đi phần xấu phần “con” tiềm ẩn để vươn đến cái đẹp, vươn đến chân thiện mĩ trong cuộc sống. Và “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là một minh chứng rõ nét nhất cho cuộc chiến khốc liệt ấy trong nội tâm sâu thẳm của mỗi con người. Ánh trăng có nội dung rất sâu sắc.
Nguyễn Duy sáng tác thơ từ rất sớm. Thơ ông luôn có sự kết hợp hài hòa nhuần nhị giữa chất trữ tình và chất thế sự, có phần ngang tàng nhưng vẫn nhiều chiêm nghiệm suy ngẫm. Thơ Nguyễn Duy có chút dung dị, hồn nhiên và trong sáng; ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm và rất đẹp, một vẻ đẹp chân quê. Cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Duy ít nhiều pha màu sắc triết lí khá thâm trầm và đầy ấn tượng.
Bài thơ Ánh trăng mang đậm dấu ấn thơ Nguyễn Duy, được in trong tập thơ cùng tên và được sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, mang bóng dáng của một câu chuyện được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện đại, nhưng quá khứ ấy được hồi cố lại trong cái nhìn của hiện tại. Dòng cảm xúc trữ tình của nhà thơ cũng theo mạch tự sự mà bộc lộ.
Hình ảnh ánh trăng trong bài thơ vừa là hình ảnh cụ thể vừa mang tính khái quát cao. Ánh trăng đối với Nguyễn Duy không chỉ là ánh trăng tuyệt đẹp của thiên nhiên mà đó còn là ánh trăng của tình nghĩa, ánh trăng của sự thức tỉnh. “Ánh trăng” là lời ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời cũng gợi nhắc mọi người cần biết sống ân nghĩa thủy chung cũng như giữ trọn những đạo lí tốt đẹp.
Nguyễn Bùi Vợi đã từng nhận định về tác phẩm “Bài thơ nói về ánh trăng mà nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa”. Với ý nghĩa sâu sắc và nhân văn, tác phẩm đã mượn đề tài thiên nhiên để nói tới suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà thơ về con người và cuộc đời.
Nguyễn Duy đã mở đầu bài thơ bằng hình ảnh của ánh trăng trong ký ức tuổi thơ cũng như sự gắn bó sẻ chia cùng con người khi chiến tranh.
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ”
Hình ảnh vầng trăng dường như được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ. Hai câu thơ chỉ vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả đầy đủ sự vận động, quá trình trưởng thành của con người. Vầng trăng ở những dòng thơ này đã đại diện cho thiên nhiên hồn nhiên tươi sáng, là người bạn tri kỷ từ tuổi nhỏ cho đến “hồi chiến tranh ở rừng”. Trong giây phút thoáng qua, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm sống dậy biết bao nhiêu kí ức của tuổi thơ. Đó là những kí ức về những năm tháng gian lao, nhưng hồn nhiên, hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị và hiền hậu. Kí ức tuổi thơ của tác giả đẹp như một câu truyện cổ tích cùng bao kỉ niệm ngọt ngào. Ở đó, trăng là người bạn, trăng là tri kỉ, trăng nghĩa tình gắn bó với con người không bao giờ quên.
Những bước chân cứ lớn dần theo bước chân của đồng, sông, bể. Nhân vật trữ tình cũng thế mà lớn dần. Thời gian cũng cứ thế mà trôi đi. Rồi đến “hồi chiến tranh”, nhân vật trữ tình đi lính sống và chiến đấu chủ yếu ở núi, rừng. Giữa không gian ấy, tác giả không cô đơn, không cảm thấy lạnh lẽo bởi có sự xuất hiện của ánh trăng. Dù ở bất kì thời gian nào, bất kì không gian nào, vầng trăng cũng gắn bó cùng con người. Hình tượng này như tô điểm thêm cho vẻ đẹp của thiên nhiên, dịu dàng đi vào tâm hồn nhà thơ. Ánh trăng xuất hiện trong những đêm đứng gác:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”  (Đồng chí – Chính Hữu)
Nhưng đêm trung thu trăng rằm phá cỗ:
“Mùa thu của em
Rước đèn họp bạn
Hội rằm tháng tám
Chị Hằng xuống xem.” (Mùa thi của em – Quang Huy)
Hay những đêm trăng thơ mộng của tình yêu
“Đêm qua trăng sáng làu làu
Anh đi múc nước để hầu tưới cây
Tình cờ bắt gặp em đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần.” (Ca dao)
Quê hương của ký ức tuổi thơ ấy tuy khó khăn thiếu thốn đủ điều nhưng vẫn bừng lên tình nghĩa với vầng trăng. Sự gắn bó ấy đã được đắp xây qua bao thời gian.
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Từ “trần trụi” cho ta cảm giác giữa vầng trăng và con người dường như không có bất cứ rào cản nào. Con người và thiên nhiên như đã hòa làm một. Con người trong những năm tháng ấy sống vô tư vô lo. Điều đó được thể hiện rõ nét qua cách so sánh “hồn nhiên như cây cỏ”. Lúc ấy tác giả ngỡ như “không bao giờ quên” được nghĩa tình sâu nặng ấy. Không đơn thuần nói về quá khứ về kỷ niệm nghĩa tình mà còn ẩn chứa trong đó thái độ nghiêm túc xem xét pha lẫn nỗi ân hận day dứt trong lòng. Có biết bao nhiêu cảm xúc trong từ “ngỡ” ấy. Đó cũng là một điểm nhấn, một dấu hiệu đặc biệt. Nó gợi cho ta biết bao suy nghĩ về những điều chưa nói. Từ “ngỡ” như một lối rẽ đưa ý thơ theo hướng khác. Hóa ra tất cả mọi thứ chỉ còn trong ký ức, đang trôi dần trong quá khứ xa xăm.
Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại cũng như bao người lính khác, nhân vật trữ tình cũng trở về cuộc sống thường nhật của mình. Nhưng không phải là về với sông với bể với vầng trăng nghĩa tình mà là trở về với thành phố tấp nập đông vui:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
“Ánh điện, cửa gương” nơi thành phố phồn hoa đã vô tình làm cho vầng trăng tình nghĩa năm nào bỗng trở thành kẻ xa lạ. Hình ảnh nhân hóa độc đáo trong khổ thơ gợi cho người đọc suy nghĩ. Vì sao “vầng trăng đi qua ngõ” nhưng không ghé vào thăm người bạn xưa? Chính vầng trăng cũng muốn ghé vào thăm, nhưng người bạn năm nào giờ đây đã thay đổi, lạnh lùng, hững hờ nên vầng trăng chỉ đành “như người dưng qua đường”. Ánh trăng bị lu mờ bởi ánh đèn chiếu rọi. Mới ngày nào gắn bó giờ đây chỉ còn là “người dưng” không chút quen biết, không chút nhớ nhung dường như chưa từng bên cạnh nhau. Nguyễn Duy đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng trong quá khứ và vầng trăng của hiện tại. Phải chăng cuộc sống hiện nghi hiện tại đã và đang làm cho tâm hồn mỗi chúng ta trở nên lạnh lùng hơn, đang dập tắt dần ngọn lửa tình nghĩa trong trái tim mỗi con người, đang biến những người bạn thủy chung năm xưa – trong đó có ta, trở thành kẻ vong ơn bội nghĩa.
Cuộc sống đầy những biến cố ngẫu nhiên, bất trắc. Và trong những biến cố bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ càng thêm sáng tỏ và soi rõ nỗi lòng con người.
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Thành phố bất ngờ mất điện. Không gian căn phòng chìm dần trong bóng tối bủa vây. Và chính lúc đó, vầng trăng tròn lung linh dịu dàng hiện ra. Cùng với ánh trăng là những kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về đầy ắp trong tâm trí. Các từ “thình lình”, “bất ngờ”, “vội” cho thấy được sự ngỡ ngàng đầy bàng hoàng của một cuộc tri ngộ không ngờ đến. Không chỉ là sự thay thế cho ánh sáng đèn điện mà ánh trăng còn là sự thức tỉnh và gợi nhớ quá khứ đã qua. Nhà thơ đang bồi hồi khi nhớ về quá khứ, nhớ lại quãng thời gian êm đềm được sống chan hòa giữa thiên nhiên bình dị, được gắn bó gần gũi hòa nhập vào khung cảnh thiên nhiên, được chung nhịp thở với đồng, bể, sông, rừng. Hành động “vội bật tung cửa sổ” chứa đựng sự âu lo, thảng thốt. Vầng trăng tròn đâu phải chỉ vì đèn điện tắt.  Hình tượng này cũng như những năm tháng ấy không hề mất đi chỉ có con người mãi chìm đắm trong ánh sáng đèn điện hôm nay mà lãng quên đi người bạn cố tri. Chính vì vậy “đột ngột vầng trăng tròn” như một biến có một khám phá đầy bất ngờ – một bất ngờ quen thuộc đầy chua chát. Trong khổ thơ này, đó là một chuỗi cái biến cố hành động nối tiếp nhau. Nhưng nhờ những biến cố ấy, nhân vật trữ tình có cơ hội gác lại cuộc sống hiện tại để nhìn nhận lại quá khứ và để thức tỉnh.
Miền ký ức xa xăm hiện về ngày càng rõ nét trong tâm trí nhà thơ.
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Đó là một cái nhìn đầy áy náy xót xa “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Con người đang đối diện cùng trăng, mặt đối mặt. Đối diện với mặt trăng hiền từ, nhân hậu của quá khứ nhưng tất cả chỉ lặng im. Mặt trăng im lặng nhìn con người thay đổi, nhìn con người trong giây phút tỉnh ngộ. Con người im lặng vì bất ngờ, vì xúc động và cũng bởi xấu hổ trước ánh trăng. Đây là một sự ngạc nhiên pha lẫn nỗi nghẹn ngào xúc động. Một cuộc hồi sinh từ kỷ niệm quá khứ êm đềm thơ mộng xen lẫn một nỗi dày vò, ray rứt của lương tâm trong thời khắc hiện tại. Mọi cảm xúc ấy được gói gọn trong hai từ “rưng rưng”. Đó là khi con tim quặn thắt, cảm xúc dâng cao trực trào nước mắt vì xót xa, vì ân hận. Vầng trăng như đã kéo nhà thơ trở về với những phút giây đầy cảm xúc của quá khứ. Thì ra ranh giới giữa nhớ và quên thật mong manh. Những cảm xúc ấy dường như vẫn còn đó, chìm sâu vào tiềm thức của con người chỉ cần một sự gợi nhắc là sẽ được đánh thức và trở về nguyên vẹn. Phải chăng con người khi gạt ngoài những tiện nghi vật chất thì mới để ý đến tình nghĩa năm xưa. Tất cả như những đợt sóng tâm trạng đang đổ dồn về phía nhà thơ.
Tác phẩm này đã kết thúc bằng một lời độc thoại nội tâm.
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
Cho dù con người có vô tình nhưng trăng vẫn thế, vẫn “cứ tròn vành vạnh”. “Cứ tròn” nghĩa là đã tròn, vẫn tròn và đang tròn. “Tròn vành vạnh” thể hiện trạng thái tươi đẹp nhất của vầng trăng. Vượt qua thời gian đằng đẵng không gian mênh mông, vượt qua tất cả sự nhớ quên của con người, vầng trăng năm xưa không hề hao gầy vơi khuyết mà vẫn cứ tròn vẹn nghĩa tình. Nguyễn Duy như muốn nhắc đến một triết lý sâu xa: Quá khứ mãi mãi vẫn ở đó vẫn vẹn nguyên tươi đẹp. Con người có thể lãng quên tất cả nhưng quá khứ vẫn luôn như vậy, ở đó dõi theo con người. Dù con người có thể quên đi quá khứ – nhưng không thể xóa đi quá khứ cùng biết bao hồi ức tháng năm… Quá khứ lặng yên không lên tiếng kết án con người. Nhưng chính sự im lặng, chính cái “im phăng phắc” đó của vầng trăng lại là lời nhắc nhở nghiêm khắc nhất “đủ cho ta giật mình”. Cái giật mình ấy không phải ngẫu nhiên. Sự giật mình đôi khi làm người ta sợ hãi nhưng cũng có những cái giật mình khiến con người thức tỉnh. Cái giật mình làm sống dậy bao kỷ niệm để con người tự vấn lương tâm. Không có bất kỳ tòa án nào xét xử sự bội bạc của con người chỉ có duy nhất toà án của lương tâm. Chính vì vậy, cái giật mình ấy là cái giật mình sâu thẳm của lương tâm con người. Tuy muộn màng nhưng điều đó rất đáng quý, giúp con người thanh lọc tâm hồn. Ý nghĩa triết lý sâu sắc của bài thơ nằm ở lời nhắc về thái độ của con người đối với những năm tháng quá khứ gian lao tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đối với đất nước bình dị.
Bài thơ Ánh trăng đã được Nguyễn Duy viết vào năm 1978 khi đất nước đã thoát khỏi đạn bom, con người sống trong cảnh hòa bình yên ổn. Nhà thơ đứng giữa hôm nay và suy ngẫm về một thời đã qua. Tiếng thơ của ông cũng là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh đối với chúng ta. Thực tế đã chứng minh, không phải ai trong chúng ta trong cuộc sống yên vui hôm nay còn nhớ về quá khứ gian nan nhưng anh dũng, về những nghĩa tình của một thời tưởng không bao giờ quên. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng day dứt “Đôi khi sống trong ánh nắng chan hòa, người ta dễ quên đi cơn mộng dữ đêm qua”.
Bài thơ Ánh trăng đã không chỉ là những chiêm nghiệm sâu sắc về thái độ và tình cảm của con người đối với những hi sinh mất mát đã qua của thời chiến tranh, mà còn khơi gợi tình cảm con người về cội nguồn, về những người đã khuất. Nhà thơ Nguyễn Duy khai thác tinh tế hình tượng nghệ thuật ánh trăng một cách độc đáo. Ánh trăng đã mang đến câu chuyện về lẽ sống ân tình và thủy chung. Tác phẩm đã gợi lên trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm về cách sống và cách làm người, cũng như là lối sống ân tình ở đời chỉ qua những câu thơ thấm thía, sâu nặng. “Ánh trăng” chính vì thế nằm trong mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn”, gợi lên đạo lý sống ân tình đầy nhân đạo. Đó cũng là một nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc góp phần hình thành truyền thống tốt đẹp của mỗi con người Việt Nam.

Nguồn: ST & 


Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá



Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam. Một nhà thơ luôn dạt dào cảm hứng lãng mạn về thiên nhiên đất nước, về con người trong thời đại mới. Bài thơ Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông và bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận,… được người đọc yêu thích nhất, đều là những tác phẩm nổi tiếng để đời. Huy Cận viết Đoàn thuyền đánh cá vào năm 1958, tại vùng biển Quảng Ninh phản ánh không khí lao động sôi nổi của nhân dân miền Bắc trong xây dựng hòa bình. Nói lên cuộc sống mưu sinh của đại diện ngư dân nơi xứ Quảng Ninh. Nhà thơ ca ngợi tinh thần lao động phấn khởi và hăng say của những người dân chài trên vùng biển quê hương.
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” được nhà thơ sáng tác vào năm 1958 khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. bài thơ là bức tranh thiên nhiên con người về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá vào lúc hoàng hôn, cảnh đoàn thuyền đi trên biển đánh bắt cá và cảnh đánh bắt cá vào lúc bình minh. Đề tài “Con người lao động” đã khơi gợi cảm hứng bất tận cho tất cả các nhà thơ nhưng đối với Huy Cận ông cũng chọn đề tài ấy để viết về ngư dân trên vùng biển Hạ Long tươi đẹp những người lao động mới đã được giải phóng, đang làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời và đất nước:
Yêu biết mấy, những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên!  (“Mùa thu mới” – Tố Hữu).
Bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nhà thơ Huy Cận trong giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945. Cảm nhận bài thơ cũng là đồng hành cùng hành trình lao động của những người dân miền biển trong một đêm làm việc. Với đôi mắt quan sát sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta một khung cảnh lao động tuyệt vời trên biển. Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy với những sắc màu huyền ảo, cuốn hút vô cùng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
Đoàn thuyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn. Phía tây, mặt trời như một hòn lửa” đỏ rực đang lặn vào lòng đại dương mênh mông. Màn đêm buông xuống kết thúc một ngày. Chính vào thời điểm ấy, ngư dân bắt tay vào công việc quen thuộc của mình: ra khơi đánh cá. Mặt trời như hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống dưới đáy đại dương để lại trên biển và phía chân trời một màu tím của hoàng hôn. Nghệ thuật so sánh “Mặt trời như hòn lửa” gợi tả cảnh mặt trời lúc hoàng hôn trên biển với bao màu sắc rực rỡ một vẻ đẹp kì vĩ tráng lệ. Phép sô sánh đem đến cho bức bức tranh hoàng hôn một vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ và ấm áp chứ không hiu hắt, ảm đạm như trong thơ cổ. Sự to lớn của thiên nhiên lột tả thông qua ánh nhìn tích cực của con người nơi đây. Trong khoảnh khắc bao sắc màu rực rỡ đã thay vào màu đen của màn đêm. Với trí tưởng tượng phong phú cùng với nghệ thuật ẩn dụ những con sóng giống như chiếc then cài, màn đêm là cánh cửa.Vũ trụ bao la rộng lớn giống như một ngôi nhà trong trạng thái nghỉ ngơi, yên tĩnh và màn đêm kia như thử thách lòng can đảm của con người. Hình ảnh thơ cho thấy thiên nhiên vũ trụ bao la mà gần gũi với con người – biển cả hay đó cũng chính là ngôi nhà thân thuộc của mỗi ngư dân. Có thể nói, hai câu thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu mến cuộc đời của nhà thơ Huy Cận.
Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động. Không phải từng chiếc thuyền lẻ tẻ đi biển mà là cả một “đoàn thuyền”, nhà thơ muốn thông qua sự to lớn được phác họa đó để thể hiện một sức mạnh mới của cuộc đời đổi thay. Chữ “lại” trong ý thơ “lại ra khơi” là sự khẳng định nhịp điệu lao động của dân chài đã ổn định, đi vào nề nếp trong hòa bình. Đó là tinh thần lao động hăng say quên cả mệt mỏi, quên cả thời gian của những người ngư dân, của những con người lao động mới của miền Bắc trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đêm tối mặt biển bỗng trở nên nhộn nhịp bởi tiếng hát của những người ngư dân cất lên. Khúc hát lên đường vang động. Gió biển thổi mạnh. Câu hát hòa cùng với làn gió mát của biển khơi thổi căng cánh buồm để đưa con thuyền ra khơi nhanh hơn. Bút pháp khoa trương “Câu hát căng buồm” tác giả muốn nói tới sức mạnh của những con người lao động. Cánh buồm no gió “căng”lên. “Tiếng hát, gió khơi, buồm căng” là ba chi tiết nghệ thuật mang tính chất tượng trưng diễn tả tinh thần phấn khởi, hăng say và khí thế ra khơi của ngư dân vùng biển. “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”, đây là cách nói độc đáo. sáng tạo của Huy Cận, khiến chúng ta tưởng như tiếng hát hòa cùng gió mạnh, thổi căng cánh buồm, đẩy thuyền phăng phăng rẽ sóng. Cánh buồm no gió tượng trưng cho khí thế phơi phới đi lên của công cuộc dựng xây đất nước.
 Câu hát lạc quan yêu đời, niềm vui lao động, sôi nổi hào hứng trong niềm khí thế cùng với buổi đầu ra khơi trong niềm tin vào một chuyến ra khơi thành công, tốt đẹp:
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Chuyện làm ăn thường có nhiều may rủi. Ra khơi đánh cá, họ cầu mong biển lặng sóng êm, gặp luồng cá, đánh bắt được nhiều. Niềm ước mong ấy phản ánh tấm lòng hồn hậu của ngư dân từng trải qua nhiều nắng, gió, bão tố trên biển. Giọng điệu thơ ngọt ngào, ngắn dài và vang xa: “cá  bạc”, “đoàn thoi”, “dệt biển”, “luồng sáng”, “dệt lưới” vẫn những hình ảnh so sánh ẩn dụ rất sáng tạo đem đến cho người đọc bao liên tưởng thú vị về vẻ đẹp thơ ca viết về lao động. Trong câu hát của những người ngư dân có gọi tên các loài cá: cá bạc, cá thu… Phép tu từ so sánh “Cá thu như đoàn thoi” vừa gợi về hình ảnh sống động vừa là lời ca ngợi nguồn tài nguyên phong phú ở vùng biển tỉnh Quảng Ninh. Với trí tưởng tượng độc đáo kết hợp với ngòi bút vừa hiện thực vừa lãng mạn để rồi đôi mắt của nhà thơ như đang được ngắm nhìn đoàn cá thu như những chiếc thoi đưa dệt nên những tấm vải lớn lấp lánh muôn màu sắc. “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi” câu thơ như lời mời gọi đoàn cá vào lưới. Câu hát của những người ngư dân không chỉ thổi căng cánh buồm vừa thể hiện sức mạnh, vừa thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời. Câu hát ấy không chỉ ngợi ca về vùng biển giàu có nước ta mà nó còn hữu ích trong công việc đánh bắt cá. Nó đã trở thành bài ca trong lao động.
Với niềm cảm hứng say sưa, bài ca lao động vẫn vang lên khoẻ khoắnv ới  cảnh đánh cá trên biển dưới trời trăng sao. cảnh đánh cá vào một đêm trăng trên vịnh Hạ Long. Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển trời, sông nước, trăng sao, trong đó con người hiện lên trong dáng vẻ khỏe mạnh, trẻ trung và yêu đời. Hạ Long là một thắng cảnh bậc nhất của đất nước ta. Hạ Long trong đêm trăng mang vẻ đẹp thần tiên. Huy Cận, với bút pháp lãng mạn tả cảnh đánh cá trên Hạ Long vào một đêm trăng bằng bao hình ảnh tuyệt vời.
Với trí tưởng tượng phong phú cùng với ngòi bút thơ đầy lãng mạn bay bổng nhà thơ đã đưa người đọc đến hình ảnh thật là đẹp. Trên mặt biển có một con thuyền lướt đi trên sóng.
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”
Hình ảnh nói quá cho thấy: con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la giờ đây qua cái nhìn của nhà thơ trở nên lớn lao, kỳ vĩ và ngang tầm vũ trụ. Đoàn thuyền đánh cá ra khơi có gió làm bánh lái vầng trăng khuyết trên trời cao đã trở thành cánh buồm. Gió và trăng đã trở thành hai bộ phận của con thuyền giúp sức cùng ngư dân đưa đoàn thuyền ra khơi. Sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Trước mắt nhà thơ đoàn thuyền đánh cá giống như những con thuyền thơ lướt nhẹ trên mặt biển và in đầy trăng sao. Và giờ đây đoàn thuyền ấy cùng với những người ngư dân đang “Ra đậu dặm xa dò bụng biển”. Những người ngư dân của thời đại mới thực sự làm chủ biển khơi, làm chủ cuộc đời, trang bị phương tiện tiên tiến, hiện đại, những con người ra khơi để thăm dò “bụng biển” đánh bắt tài nguyên đem về xây dựng đất nước. Bằng trí tưởng tượng kết hợp cách nói khoa trương gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh đoàn thuyền đánh cá đang “Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”.  Những con thuyền to lớn, tư thế hùng dũng, hiên ngang, giống như những thuyền chiến còn con người đang thả lưới vây giăng chuẩn bị bước vào trận chiến đấu mới trên mặt trận lao động. người dân chài như những nghệ sĩ khéo léo và tâm hồn phóng khoáng, dũng cảm chinh phục biển cả. Nhà thơ đã nâng tầm vóc con người và đoàn thuyền đã được nâng lên, hoà nhập vào kích thước của thiên nhiên vũ trụ. Không còn cái cảm giác nhỏ bé lẻ loi khi con người đối diện với trời rộng, sông dài như trong thơ Huy Cận trước cách mạng. Hình ảnh thơ thật lãng mạn, bay bổng và con người có tâm hồn cũng thật vui vẻ, phơi phới. Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên.
Đã bao đời, người ngư dân có mối quan hệ chặt chẽ với biển cả. Họ thuộc biển như thuộc lòng bàn tay. Bao loài cá họ thuộc tên, thuộc dáng, thuộc cả thói quen của chúng:
“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.”
 Chỉ với 4 câu thơ Huy Cận đã Huy Cận đã cho ta thấy 1 bức tranh kì thú về sự giàu có và đẹp đẽ của biển cả quê hương. Cảnh biển đêm hiện lên thật sống động và nhiều màu sắc với những đường nét lung linh, phong phú đến lạ kì. Bằng nghệ thuật liệt kê : “Cá nhụ, cá chim cùng cá đé - cá song lấp lánh đuốc đen hồng”. Chim, thu, nhụ, đé là những loài cá quý ở vùng biển nước ta, những loài cá mang lại giá trị kinh tế lớn cho ngành thuỷ sản Việt Nam. Biển không chỉ giàu mà còn rất đẹp. Biển đẹp một cách thơ mộng. Khi màn đêm bắt đầu buông xuống, trời khuya dần, trăng bắt đầu lên, chúng ta có thể hình dung giữa không gian bao la sóng nước, giữa ánh sáng rất dịu dàng, mờ ảo, mơ hồ của ánh trăng trên biển, lúc ấy biển mang màu sắc thật nên thơ. Nó lấp lánh, dịu dàng, thanh thoát. Vẻ đẹp đó hoà cùng với màu sắc của muôn loài cá trên biển. Huy Cận sử dụng một loạt các tính từ chỉ màu sắc: lấp lánh, đen hồng, vàng choé. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn mài nên thơ và đầy chất lãng mạn. Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ độc đáo. Tuy nhiên Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé lại là hình ảnh đẹp nhất. Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chéo. Nghệ thuật phối sắc tài tình làm cho vần thơ đẹp như một bức tranh sơn mài rực rỡ.
Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh. Bằng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa, biển cả như một sinh thể sống động. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long là hình ảnh nhân hoá đẹp. Đêm được miêu tả như một sinh vật đại dương: nó thở. Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước, hoà với tiếng gõ thuyền trong nhịp điệu hối thúc của đêm tàn… Nhưng tưởng tượng của nhà thơ được cắt nghĩa bằng bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên tiếng thở của đêm. Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa ánh sao trời nơi đáy nước chứ không phải bóng sao lùa sóng nước. Đây là một hình ảnh lạ - một sáng tác nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên sinh động. Tất cả làm nên một bức tranh hoà nhịp kỳ diệu giữa thiên nhiên và con người lao động.
Trên mặt biển đêm, ánh trăng long lanh dát bạc, cá quẫy đuôi, sóng sánh trăng vàng. Bài ca “gọi cá” vẫn tiếp tục ngân vang, lúc náo nức, lúc thiết tha:
“Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào".
Vầng trăng soi xuống mặt biển, muôn ngàn ánh vàng tan ra theo làn sóng, vỗ vào mạn thuyền. Trăng thức cùng ngư dân, trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền, như “gõ nhịp” phụ họa cho tiếng hát. Trăng chiếu sáng cho người kéo được những mẻ cá đầy. Chất thơ bay bổng lãng mạn. Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ làm đẹp thêm công việc đánh cá trên biển. Thiên nhiên đã cùng con người hoà đồng trong lao động. Và như vậy, bức tranh không chỉ có màu sắc hình ảnh mà còn có cả âm thanh rộn rã. Những vần điệu độc đáo được dệt nên bằng cái nhìn tươi tắn, lạc quan của tác giả đối với biển và con người thể hiện tình yêu lao động, khát khao chinh phục thiên nhiên và ước mơ làm giàu, làm đẹp cho đời của những con người lao động mới.
Biển không chỉ đẹp mà biển còn rất giàu, nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng mang lại hạnh phúc cho con người. Biển hào phóng cho nhân dân nhiều tôm cá, muối và hải sản… Biển “như lòng mẹ” đã nuôi sống nhân dân ta từ bao đời nay. Hình ảnh so sánh “như lòng mẹ” quen thuộc là lời ca ngợi biển cả, thể hiện niềm tự hào của những người dân làng chài đối với biển quê hương và ví biển nuôi sống con người như một người mẹ chăm sóc, nuông nấng bầy con. Giọng thơ tự nhiên, chân thành, ấm áp, chứa chan tình yêu thương và mang âm hưởng ca dao.
Bóng đêm đang tan, ngày đang đến, nhịp độ công việc càng sôi nổi, khẩn trương:
“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”
Bao công lao vất vả đã được đền bù. Dáng người ngư dân đang choãi chân nghiêng người, dồn tất cả sức mạnh vào đôi cánh tay cuồn cuộn để kéo lên những mẻ lưới nặng trĩu mới đẹp làm sao! Nhịp thơ nhanh dồn dập,rắn rỏi gân guốc, nhiều thanh trắc nối tiếp nhau “ kéo lưới kịp sáng, nặng” góp phần khắc họa nhịp điệu khẩn trương.Huy Cận đã tạc khắc trước mắt ta bức tượng ngư dân đầy sức sống mang đậm những chi tiết tả thực của công việc lao động vất vả. Họ đang mang hết sức lực, trí tuệ nhiệt tình và hăng say để kéo lưới thi với thời gian. Họ “kéo xoăn tay” gợi rõ sự vất vả nặng nhọc nhưng đồng thời khắc sâu tinh thần đoàn kết, lao động hết mình của các ngư dân. Bóng dáng họ in trên nền trời hồng của buổi bình minh với thành quả lao động. Những tia nắng sớm chiếu trên khoang cá đầy làm lấp lánh thêm “vẩy bạc, đuôi vàng” và màu sắc phong phú của bao loài cá cũng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ. Từ “bạc”, “vàng” vừa gợi màu sắc sáng đẹp, vừa gợi sự quý giá, giàu có của biển ban tặng con người cần cù, dũng cảm. Ta ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cá. Những con cá vàng, bạc đã làm nên điều kì diệu “lóe rạng đông” thức dậy bình minh, gọi một ngày mới bắt đầu. Cảm giác ánh sáng một ngày mới từ đoàn thuyền cá đó thể hiện ánh sáng sự bội thu. Nhịp điệu câu thơ cuối của khổ thơ trên chậm rãi, gợi cảm giác thanh thản, vui tươi, phản ánh tâm trạng thoải mái của ngư dân trước kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi. Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng tạo một sự nhịp nhàng giữa lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ. Con người muốn chia sẻ niềm vui với ánh bình minh.
Nếu những người ngư dân ra khơi cất cao tiếng hát thì khi hoàn thành họ cũng cất cao tiếng hát:
“Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
Với bút pháp khoa trương lại một lần nữa nhà thơ tưởng tượng câu hát của người ngư dân, câu hát cùng gió thổi căng cánh buồm đưa con thuyền về bến nhanh hơn. Dường như thiên nhiên và con người có sự hòa hợp. Tiếng hát còn thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời niềm vui trước thành quả lao động của những ngày vất vả trên biển. Câu hát xuất hiện ở khổ đầu giờ lại lặp lại ở khổ cuối tạo cho bài thơ đầu cuối tương ứng. Bút pháp khoa trương cùng trí tưởng tượng nhà thơ đã hình dung trước mặt mình là khung cảnh tráng lệ, sôi động. Mặt biển rộng lớn trở thành trường đua với hai đối thủ là con người và mặt trời. Và chắc hẳn con người sẽ thắng bởi họ đã một lần chiến thắng biển khơi với những khoang thuyền đầy cá. Đặt con người trong cuộc tranh tài với thiên nhiên là nhà thơ khẳng định tầm vóc của con người có thể sánh ngang thiên nhiên.
Hòa cùng niềm vui to lớn của mọi người, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Đoàn thuyền lao vun vút trên mặt biển. “Mặt trời đội biển nhô màu mới” một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi. Bình minh báo hiệu một ngày mới, báo hiệu một sự sống sinh sôi nảy nở, là sự khởi đầu của những niềm vui, niềm hạnh phúc mà người dân chài có được sau một chuyến hành trình rất vất vả và cực nhọc. Và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá trên thuyền, khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ xíu đang tỏa sáng niềm vui. Nghệ thuật hoán dụ “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” đã vẽ lên cảnh được mùa cá và cuộc sống hạnh phúc ấm no của nhân dân vùng biển. Bằng lao động và mồ hôi, họ đã viết nên bài ca cuộc đời. Ý thơ phảng phất không khí thần thoại, anh hùng ca, bản anh hùng ca lao động. Đó là niềm vui chiến thắng, niềm vui đủ đầy khi được mùa cá, niềm vinh quang của người lao động rất bình dị, nhỏ bé. Nó làm nổi bật tư thế làm chủ vũ trụ của những con người lao động. Đến đây, bức tranh biển cả ngập tràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình, đường nét của cảnh, của người.
Qua thơ Huy Cận, chúng ta như được sống những đêm trăng đẹp trên Hạ Long, ta tự hào đất nước ta có trên ba nghìn cây số bờ biển; biển ta giàu có, bao la tiềm năng, dồi dào hải sản. Cảnh đánh cá trên biển được miêu tả với cảm hứng lãng mạn. Lao động thật sự là niềm vui cuộc đời. Trong xã hội ta, cái đáng quý nhất là lao động, người đáng quý nhất là người lao động. Hình ảnh người dân chài trong bài thơ là hiện thân của sức sống cần lao. Họ cần cù, dũng cảm và chịu khó. Cuộc đời của họ đã gắn liền với sóng gió mưa nắng biển khơi, khai thác nhiều hải sản. Chính họ đã đem lại muối mặn và hương vị biển cho mọi gia đình gần xa, bữa cơm trở nên đậm đà với con tôm, con cá. Cùng với nhà nông “một nắng hai sương”, những người dân chài đã cho ta bài học về đức tính cần cù, tinh thần lạc quan trong lao động. Tác giả với tình yêu thiên nhiên, yêu con người lao động đã thể hiện được không khí sôi nổi, hào hùng của đất nước ta khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đọc Đoàn thuyền đánh cá không chỉ cảm nhận những câu từ chân chất về sự to lớn của biển cả, của sự cần cù. Mà còn thấu hiểu  thông điệp về con người, về tinh thần của người con Đất Việt, về thiên nhiên hùng vĩ xung quanh mà tác giả truyềnchân thự đến người đọc.


Cảm nhận nhân vật Phương Định




Là một trong những nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, Lê Minh Khuê được đánh giá là cây bút độc đáo với những tác phẩm truyện ngắn. Ngòi bút của nhà văn luôn hướng về cuộc sống chiến đấu trong bom đạn của tuổi trẻ trong thời kỳ bấy giờ, đặc biệt là những người anh hùng thầm lặng trên tuyến đường Trường Sơn. Những ngôi sao xa xôi cũng là một trong những tác phẩm điển hình của nhà văn về đề tài này. Tác phẩm ngợi ca tinh thần dũng cảm của những cô gái thanh niên xung phong – tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đầy bom đạn, đồng thời cũng thể hiện vẻ đẹp trong sáng cùng với tình đồng đội thắm thiết của những cô gái trẻ, điển hình là nhân vật Phương Định. Phương Định mang những nét đẹp trong tâm hồn của những cô gái đã chiến đấu hết mình cho tổ quốc.
Lê Minh Khuê trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Các tác phẩm của Lê Minh Khuê được bạn đọc đón nhận với sự chân chất, dung dị, ngòi bút sắc sảo cùng với một giọng văn sâu sắc. Những truyện ngắn của bà ra đời đầu những năm 70 của thế kỷ XX đều hướng đến cuộc sống chiến đấu của bộ đội cùng những thanh niên xung
Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom trên một cao điểm trên tuyến đường Trường Sơn thời kỳ cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Họ thuộc tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên con đường ác liệt ấy. Qua ngòi bút tài hoa của nhà văn, hiện thực cuộc sống nơi chiến trường và hình ảnh những nữ thanh niên xung phong với cuộc sống gian khổ một thời cứ hiện lên sống động sau từng câu chữ.
Ấn tượng sâu đậm nhất mà Lê Minh Khuê để lại trong lòng bạn đọc ở “Những ngôi sao xa xôi” có lẽ chính là hình ảnh những cô gái dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm, có tình đồng chí đồng đội sáng ngời, có tâm hồn trong trẻo, giàu mơ mộng và nhạy cảm. Tất cả những vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung nhất ở nhân vật Phương Định, mà chủ yếu qua đời sống nội tâm của cô.
Xuất thân là một cô gái Hà thành nhiều mộng mơ và giàu xúc cảm, Phương Định đã đi theo tiếng gọi của Tổ quốc để lên đường chiến đấu. Cô gái ấy tham gia thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn máu lửa và đầy mưa bom bão đạn.Phương Đình cùng Nho và Thao sống trong một cái hang ở dưới chân cao điểm, giữa một cùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nơi đây tập trung nhiều bão đạn và nguy hiểm, bởi từng giờ từng ngày luôn phải đối mặt với bom rơi đạn nổ. Từng có biết bao thương tích vì bão đạn tại nơi ấy với những chi tiết “đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh, chỉ có những thân cây bị tước khô cháy”. Chính hiện thực đầy mùi chiến tranh khi không có màu xanh của sự sống và chỉ thấy thần chết luôn rình rập đã nói lên hoàn cảnh sống và chiến đấu của những cô gái khốc liệt đến nhường nào.
Công việc của các cô gái ấy đầy rẫy những hiểm nguy khôn lường. Những cô gái phải chạy lên cao điểm giữa ban ngày, rồi phơi mình ra giữa vùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch để ước tính và đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ, và cần thì phá bom. Nhiệm vụ ấy vô cùng thiêng liêng và quan trọng, nhưng cũng đầy hy sinh và gian khổ. Công việc ấy luôn phải căng thẳng thần kinh, đòi hỏi sự bình tình và dũng cảm hết sức để đối mặt với mạo hiểm, với cái chết luôn cận kề.
Ở Phương Định, ta thấy một cô gái mang vẻ đẹp ngời sáng và nhiều nét đặc biệt đầy ấn tượng. Cô gái ấy sẵn sàng rời bỏ cuộc sống nhàn hạ phồn hoa để lên đường chiến đấu với cuộc sống nơi chiến trường đầy gian khổ ác liệt. Mặc dù công việc nhiều hiểm nguy bủa vây, khi sống chết chỉ còn trong gang tấc thì Phương Định vẫn luôn giữ được vẻ hồn nhiên trong sáng của tuổi trẻ, lòng lạc quan, tinh thần đồng đội sâu sắc, đặc biệt là tinh thần chiến đấu dũng cảm và kiên cường.
Ở Phương Định – cô gái ấy đã ngời sáng lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Cô gái ấy mang lý tưởng sống đầy cao đẹp và tinh thần chiến đấu dũng cảm. Khi rời ghế nhà trường phổ thông, cô gái Phương Định đã xung phong ra mặt trận, không ngại gian khó và nguy hiểm cùng thế hệ của mình đi theo tiếng gọi của Tổ quốc:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.”
Cô gái ấy đã không tiếc thân mình, mang lý tưởng cao đẹp để chiến đấu, nguyện dâng hiến hết tuổi trẻ, tuổi thanh xuân và chính bản thân mình cho đất nước. Lý tưởng cao đẹp ấy làm chúng ta nhớ đến những vần thơ cảm động:
“Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông….”
Cô gái ấy từng nghĩ về hoàn cảnh sống nơi đây một cách đầy giản dị và cho là có cái thú riêng qua những dòng cảm nghĩ “có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Rồi “thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khi biết rằng xung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể nổ chốc nữa, nhưng nhất định sẽ nổ”. Công việc phá bom của họ đầy nguy hiểm rình rập và luôn phải đối mặt với cái chết nhưng lại hiện lên qua giọng kể đầy hóm hỉnh và bình thản như “Quen rồi, một ngày chúng tôi phá bom đến mấy lần”. Hiện thực khốc liệt của chiến tranh qua giọng điệu của cô gái ấy thật hóm hỉnh, thật như biết đùa trước gian khó hiểm nguy. Khi phải đối mặt với hiểm nguy, Phương Định cùng với những người đồng đội của mình thực sự là những cô gái anh hùng. Hơn thế nữa những hy sinh và mất mát của bản thân cũng được cô gái coi hết sức nhẹ nhàng “Tôi bây giờ vẫn còn một vết thương chưa lành ở đùi. Tất nhiên tôi không vào viện quân y”. Chỉ với ngữ điệu bình thản ấy cũng đủ toát lên sự lạc quan, tinh thần dũng cảm của nhân vật.
Người đọc còn nhận thấy tinh thần quả cảm và không sợ hy sinh ở cô gái này. Điều này được thể hiện rõ nét qua một lần phá bom được miêu tả cụ thể, tinh tế đến từng cảm giác. Không khí chứa đầy sự căng thẳng, khung cảnh chiến trường tàn khốc nhưng Phương Định lại có những tâm lý rất lạc quan và đầy nữ tính của con gái “Có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình”. Sự dũng cảm và tinh thần chiến đấu ở cô như được kích thích bởi lòng tự trọng: “Tôi đến gần quả bom, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới”. Khi ở bên quả bom, lúc cận kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người cũng trở nên sắc nhọn hiện lên qua tâm lý của Phương Định: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm, nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng, một dấu hiệu chẳng lành”. Sau đó là cái giây phút căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom, cô gái ấy có nghĩ đến cái chết nhưng là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, và cái chính vẫn là: “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”.  Đây là lòng dũng cảm vô song, là tinh thần trách nhiệm rất cao trong công việc. Có thể khẳng định rằng cô gái này và những đồng đội của cô thực sự là những cô gái anh hùng, nhưng đều là những anh hùng mà không tự biết. Điều này đã khiến cho nhân vật Phương Định trở nên đáng mến.
Bên cạnh lý tưởng cùng tinh thần chiến đấu quả cảm, ta còn thấy ở cô gái này nét tính cách mơ mộng và hồn nhiên – một vẻ đẹp tâm hồn trong sáng. Qua ngòi bút của Lê Minh Khuê, nhân vật Phương Định hiện lên là cô gái có vẻ ngoài đáng yêu, xinh xắn, trẻ trung và đầy sức sống với “hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao và đầy kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”. Không những thế, cảm nhận nhân vật Phương Định, ta còn thấy cô gái ấy hiện lên với đôi mắt có ánh nhìn đầy xa xăm.
Phương Định là nữ sinh thanh lịch của đất Hà thành bước vào chiến trường bom đạn. Cô gái ấy đã từng có thời áo trắng ngây thơ, vô tư và hồn nhiên. Ngay giữa chiến trường dữ dội, những hoài niệm của Phương Định về những năm tháng học trò thật đáng yêu luôn sống trong cô. Đó phải chăng là niềm khao khát cũng chính là sự lạc quan, vô tư làm dịu mát tâm hồn trong sự khốc liệt và căng thẳng nơi chiến trường. Kết thúc những giây phút căng thẳng nơi cao điểm, xong việc là cô gái thở phào và sà ngay vào một thế giới khác – thế giới của những cô gái nữ tính đầy mơ mộng “nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ, có thể nghe hay nghĩ ngợi lung tung”. Cô gái ấy còn mê hát và thích nhiều bài hát với đủ các chủ đề. Thích hát để rồi Phương Định còn bịa ra cả lời bài hát, ngồi dựa vào thành đá mà khe khẽ hát. Điều này cũng hé lộ vẻ đẹp phong phú nơi tâm hồn. Tiếng hát của Phương Định mang lý tưởng sống, khát khao về quê hương về tình yêu tuổi trẻ, khát vọng sự thanh bình…
Cũng như bao cô gái mới lớn, cô gái ấy có một tâm hồn nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. Cô gái đó biết mình đẹp, thích ngắm mình trong gương, rồi có chút kiêu ngầm khi biết mình được các anh pháo thủ và lái xe thăm hỏi. Phương Định vui và tự hào về điều đó, nhưng không hay biểu lộ tình cảm của mình mà thường tỏ ra kín đáo giữa đám đông. Nhà văn Lê Minh Khuê đã rất tinh tế khi phát hiện ra cái nét tâm lý kiêu ngầm ấy ở Phương Định. Đó là sự kiêu ngầm của một cô gái trẻ có ý thức sâu sắc về vẻ đẹp cuộc sống. Nét tâm lý rất đời thường, rất con gái này khiến nhân vật Phương Định càng trở nên gần gũi, chân thực và đáng yêu biết bao.
Đặc biệt, vẻ đẹp tâm hồn ấy được bộc lộ sâu sắc khi bất ngờ một cơn mưa đá ập đến. Bao hiểm nguy, ngột ngạt và căng thẳng của chiến trận như được gột rửa và tan biến. Chỉ một cơn mưa đá vụt qua cũng đủ khiến tâm hồn Phương Định sống với rất nhiều kỉ niệm và nỗi nhớ. Đó là hoài niệm về quê hương, về gia đình, về tuổi thơ đầy thanh bình. Tất cả những hồi ức ấy vừa rõ ràng, lại vừa mờ ảo; vừa đồng hiện, lại vừa vụt hiện trong tâm trí; vừa gần gũi, mà lại vừa xa xôi. Những hồi ức ấy đã trở thành điểm tựa tinh thần, là nơi dựa vững chắc, để tiếp thêm sức mạnh cho cô thanh niên xung phong đi qua những thử thách, những hiểm nguy của cuộc sống nơi chiến trường.
Người đọc còn nhận thấy vẻ đẹp tâm hồn ngời sáng được hiện lên qua tình cảm đồng chí đồng đội. Cô gái ấy luôn quan tâm và thương yêu đến những đồng đội của mình. Phương Định lo lắng khi Nho và chị Thao lên cao điểm mà chưa về. Cô hiểu về Nho và chị Thao như tình chị em ruột thịt với biết bao tình cảm, với sự gắn bó yêu thương. Những chi tiết cụ thể như chị Thao sợ máu và vắt nhưng khi chiến đấu lại rất dũng cảm. Trong suy nghĩ của Phương Định, chị Thao hiện lên với sự bình tĩnh cương quyết và táo bạo trong công việc. Với cô em út của tổ trinh sát, Nho hiện lên trong suy nghĩ của Phương Định là cô gái “nhẹ mát như một cây kem trắng”. Khi Nho bị thương, cô vỗ về chăm sóc như tình chị em ruột thịt với chi tiết “moi đất để bế Nho đặt lên đùi” rồi “rửa cho Nho bằng nước đun sôi” “tiêm cho Nho” rồi “pha sữa trong cái ca sắt”.  Bên cạnh đó, cô gái ấy cũng dành tình cảm cho tất cả những những người chiến sĩ mà cô gặp trên con đường ra mặt trận. Với Phương Định thì chính “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Có thể thấy, tình đồng chí đồng đội của nhân vật Phương Định thật đáng cảm mến, một thức tình cảm cao cả, thiêng liêng và rất đáng quý.
Có thể nói, nhà văn Lê Minh Khuê đã tỏa sáng với ngòi bút của mình với nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi. Xây dựng nhân vật cô gái này, nhà văn đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lý khi đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Chính vì thế, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính đã làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung và nữ tính như chính nét tính cách của nhân vật. Bên cạnh đó, lời kể linh hoạt, cùng câu ngắn dài, nhịp nhanh tạo không khí chiến trường, nhịp kể chậm lại khi hồi tưởng như gợi nhớ kỷ niệm của tuổi thơ êm đềm cũng là một nét nghệ thuật tạo nên sự thành công của tác phẩm.
Cuộc sống nơi chiến trường dữ dội và khốc liệt của những cô gái thanh niên xung phong được tái hiện một cách chân thực, đầy đủ và sinh động. Trong văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh về những nữ thanh niên xung phong cũng không hề hiếm, song chỉ với ngòi bút của mình, Lê Minh Khuê với tác phẩm Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái vừa quả cảm trong chiến đấu, lại vừa gắn bó sâu sắc trong tình đồng chí đồng đội, lại mang nét hồn nhiên vô tư, trong sáng và đầy lạc quan… Đây là một hình ảnh đẹp, đặc trưng cho thế hệ trẻ Việt Nam đã sống và chiến đấu, hy sinh không tiếc tuổi xuân cho quê hương đất nước.
“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.” (“Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm).
Phương Định, Nho, chị Thao, mười cô gái ngã ba Đồng Lộc hay biết bao những cô gái mở đường trên tuyến đường Trường Sơn bom đạn sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc, theo dòng lịch sử và trường tồn cùng non sông đất nước. Vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái ấy sẽ mãi mãi tỏa sáng như những vì sao lấp lánh trên bầu trời, trong sự yêu mến, sự cảm phục và lòng biết ơn của cả dân tộc. Ta bỗng xúc động nhớ đến những vần thơ “Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói lung linh” (Lâm Thị Mỹ Dạ – Khoảng trời và hố bom).
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng khi đọc lại tác phẩm Những ngôi sao xa xôi, người đọc như được sống lại những năm tháng hào hùng của dân tộc. Nhân vật Phương Định mang những nét đẹp tiêu biểu cho biết bao chàng trai và cô gái thanh niên xung phong trong những năm tháng chống Mỹ oanh liệt. Phương Định đã tiếp thêm cho ta sức mạnh và động lực để viết tiếp nên những nét son trong trang sử của thời đại mình.

Nguồn: ST &