Thứ Bảy, ngày 25 tháng 5 năm 2013

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ ÁNH TRĂNG CỦA NGUYỄN DUY



 Đất nước giải phóng được ba năm, những anh bộ đội cụ Hồ về với nhịp điệu của cuộc sống thời bình. Trước những tiện nghi hiện đại, trước những cám dỗ tầm thường, ngày hôm qua lắng lại trong những bận bịu, lo toan. Đúng như một nhà thơ đã viết:

Có những lúc trên đường đời tấp nập

Ta vô tình đã đi lướt qua nhau.

Vâng, sự vô tình ấy không nên thanh minh mà rất cần thức tỉnh. Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn  Duy, với lời thơ mộc mạc, chất trữ tình lại là tiếng lòng chân thật cất lên từ chất tự sự của một câu chuyện thơ. Bài thơ thể hiện một chủ đề truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”mà thấm thía bởi nội tâm của nhà thơ từ cái giật mình đáng quý!

 Bài thơ có cấu tứ từ một câu chuyện ngắn, với cách kể linh hoạt của thể thơ năm chữ. chất trữ tình làm nền để lời tâm tình mộc mạc, chân chất ; lời độc thoại với lòng mình trước quá khứ, hiện tại; trước cái còn cái mất, trước cái hôm qua- hôm nay trở thành tiếng lòng của nhà thơ trước cuộc đời.

Bắt đầu là câu chuyện kể với giọng bình thản, nhà thơ lặng trôi theo những xúc động của một quá khứ riêng mình. Không kể, không tả mà là điểm qua từng khoảng không gian, thời gian. Lời kể lướt qua nhanh mà đủ  sức gợi, đủ sức lay động lòng người:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ.

Hai khoảng thời gian đẹp nhất của nhân vật trữ tình. Đó là “Hồi nhỏ”và “Hồi chiến tranh”. “Hồi nhỏ sống với đồng- với sông rồi với bể”, điệp từ “với” mở ra ba không gian đồng, sông, bể. Không gian vừa mênh mông vừa gần gũi. Không phải chỉ là sự gần gũi, thân thiết mà là “sống với” nghĩa là vô cùng gắn bó. Vầng trăng trong không gian thơ ấu đẹp hồn nhiên thật. Nhưng bước ngoặt lớn đối với tác giả đấy là hồi chiến tranh. Tại sao đến lúc này vầng trăng mới thành tri kỉ? Phải chăng trong kháng chiến, xa quê hương, xa gia đình, đối diện với biết bao gian lao của cuộc kháng chiến, vầng trăng vô cùng thân thiết, hiểu nhau, không thể thiếu nhau. Trăng và người chiến sĩ cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, cho nên vầng trăng thành tri kỉ. Trăng được nhân hoá thành người bạn, người tri kỉ gắn bó bằng tâm hồn. Đến khi vầng trăng tri kỉ xuất hiện, giọng thơ chậm lại đầy suy ngẫm:

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ.

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Trăng và người chiến sĩ là thế đó! Trăng đã sống với nhau thân thiết, gần gũi đến trần trụi, hồn nhiên vô tư đến độ như cây cỏ.  Vì vậy vầng trăng không chỉ tri kỉ mà còn ân tình biết bao! Thuỷ chung biết bao! Ngỡ rằng con người không bao giờ quên hình ảnh sâu đậm áy. Thế mà khi hoàn cảnh thay đổi,  con người trở nên vô tình, trở thành kẻ “ăn ở bạc”. Vẫn bằng giọng thủ thỉ , tâm tình mà ta nghe như bắt đầu gió sóng ở đâu đấy đã nổi lên rồi trong lòng. Cả một quảng đời thơ ấu, sống giữa thiên nhiên, những năm tháng chiến tranh ở rừng vẫn sống với thiên nhiên. Hồi nhỏ trăng là bạn “Em đi trăng theo bước/ Như muốn cùng đi chơi”, khi làm anh bộ đội, thì “đầu súng trăng treo”, vầng trăng thành tri kỉ. Vầng trăng đã trở thành biểu tượng của yêu thương, thuỷ chung, nghĩa tình. Vậy mà:

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện của gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Vẫn giọng điệu bình thản ấy, vậy mà nghe như hờn trách, xót xa. Quá khứ và hiện tại đối lập một cách sắc cạnh. Nếu thuỷ chung, tình nghĩa là một nét đẹp trong tính cách dân tộc, thì thái độ đối xử này không chỉ là đáng trách! Những bận rộn trong cuộc sống hằng ngày, nhịp điệu gấp gáp nơi đô thị có bào chữa cho sự bội bạc ấy chăng? Cũng như ánh điện tràn ngập khắp nhà cao, nối bao con đường, lối phố có thể giúp thanh minh cho sự dửng dưng, hờ hững kia chăng? Không, Nguyễn Duy chân thành như là thú tội. Một sự chân thành đáng quý! Ta nghe như thấm thía nỗi xót xa khi người “tri kỉ” “ đi qua ngõ” mà “như người dưng qua đường”.

Một khoảnh khắc của hiện tại làm nên cái giật mình của con người. Đến đây tứ thơ có chút kịch tính. Tuy cố bình thản nhưng chính nhà thơ đã tự vấn mình:

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn.

Các từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột”cùng với cấu trúc đảo được dùng thật tự nhiên. gợi tả đầy biểu cảm. Trong khoảnh khắc “phòng buyn- đinh tối om”ấy, vầng trăng xuất hiện thật bất ngờ khiến tác giả bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng.

Sự cố “đèn điện tắt” rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con người trở về với những giá trị cao đẹp, vĩnh hằng. Có lẽ khi mất điện, con người cũng chỉ mở cửa để đón ngọn gió trời chứ không hình dung ra cái gì đó đang đợi mình ngoài kia. Vì thế, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng đã khiến con người bừng tỉnh, nghẹn ngào:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng

Cử chỉ “Ngửa mặt lên nhìn mặt” ta đã gặp bao lần trong thơ. Lý Bạch “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương”, Bác Hồ trong tù đã từng có khoảnh khắc ngắm trăng như thế:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia( Ngắm trăng)

Riêng Nguyễn Duy dùng hai từ “ mặt” thật đắt.  Mặt trăng, mặt người cùng đối diện. Trăng chẳng nói, chẳng trách  nhưng người lính “rưng rưng” xúc động. Những xúc động xót xa, ân hận khiến giọng thơ không thể bình thản được. Khổ thơ đầu chỉ nhắc “sống với đồng/ Với sông rồi với bể” đến đây thành “như là đồng là bể/ Như là sông là rừng”. Giọng kể ấy là giọng hoài niệm. Vầng trăng đánh thức tất cả dậy, từ những kỉ niệm tuổi nhỏ đến những năm tháng cầm súng hành quân đuổi giặc  dưới những cánh rừng. Thì ra những ký ức đẹp đẽ  ấy đã không mất đi, con người không phải hoàn toàn vô tâm đến thế. Ký ức ấy chỉ tạm lắng xuống, con người trong lúc bận rộn đã lãng quên đi nhưng chỉ một tác động nhỏ chúng sẽ sống dậy vẹn nguyên, thậm chí còn đằm sâu hơn, tạo nên vẻ đẹp không gì sánh nỗi của tâm hồn con người.

Khổ thơ cuối, với cấu trúc đối trong từng cặp câu  đã thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu trưng của vầng trăng trong cảm xúc của tác giả :

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Vầng trăng “tròn vành vạnh” mang vẻ đẹp viên mãn, là biểu tượng của sự bao dung, độ lượng, mang sự tròn đầy của tình nghĩa, của thuỷ chung. Vầng trăng ấy đủ để người thơ nhận ra sự vô tình. Ánh trăng “im phăng phắc” không hề trách cứ, lặng lẽ, vô ngôn. Một sự lặng im của tình nghĩa có cả sự nghiêm khắc, sự nghiệm khắc đủ để con người “giật mình”. Cả bài thơ chủ thể trữ tình ẩn sau lời kể, ẩn sau câu chuyện riêng tư của một - con- người. Đến đây không phải ngẫu nhiên tác giả dùng cụm từ “Ta giật mình”Phải chăng người đọc đã hoà vào cảm xúc đầy ăn năn của nhà thơ? Phải chăng cái giật mình cần có của mỗi con người bởi ta cũng đã bao lần để ngày hôm qua trong ngần rơi vào lãng quên? Phải chăng bài thơ không dừng lại ở một câu chuyện riêng tư mà đã trở thành chuyện của bao người. Cái giật mình của nhà thơ cũng là giật mình của hồi ức. Ta đã gặp trong bài “Nghe tắc kè kêu trong thành phố”:...

Tôi giật mình

nghe

trên cành me

Góc đường công Lý cũ

Cái âm thanh của rừng lạc vào thành phố..

Ta có thể hiểu cái giật mình của nhà thơ, cái giật mình của lương tri, lương năng, của tâm hồn con người ở cuối bài thơ thật đáng quý bởi đó là sự thức tỉnh của người thơ và cũng là thức tỉnh mọi người về một thái độ sống. Đó là lời nhắc nhở của vầng trăng đối với con người về quá khứ, về tình nghĩa thuỷ chung, về thái độ tình cảm của con người.

Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ, chất tự sự và hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị đã góp phần thể hiện tâm hồn nhà thơ với cuộc đời. Lời kể bằng thơ có khi thanh thản, có khi dồn dập sự kiện, tình huống, có khi là đoạn kể hoài niệm, có khi là lời độc thoại đầy tâm trạng. Bài thơ đã thể hiện một chủ đề truyền thống “uống nước nhớ nguồn” bằng một tiếng lòng chân thành của con tim vì thế mà “ánh trăng” có sức lay động và thức tỉnh lòng người.

Đọc bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy viết sau ba năm  đất nước thống nhất ta càng thấm thía với điều mà nhà thơ quan tâm. Phải chăng cách sống đẹp, sống có nghĩa có tình với quá khứ, với hiện tại là điều mà bài thơ đặt ra - vấn đề sẽ luôn luôn mới. Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc đã từng nêu lời nhắn nhủ của núi rừng:

Phố đông còn nhớ bản làng

Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Với chúng ta, ánh trăng tình nghĩa của Nguyễn Duy là một ánh sáng thắp lên, soi rọi tâm hồn để mỗi người sống ngày càng đẹp hơn với truyền thống của dân tộc mình.



Nguyễn Sân